Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Chia sẻ với bạn về sống kiểu Miliket

“Cách truyền thông của Miliket là không cần phải tốn nhiều tiền. Đó là quảng bá chủ yếu trực tiếp vào người tiêu dùng bằng những hoạt động cụ thể như tham gia hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, hàng Việt về nông thôn, trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua nhân viên bán hàng tại các chợ bán lẻ, chợ đầu mối và các đại lý”, ông Nguyễn Văn Út, Tổng Giám đốc Công ty Colusa - Miliket, cho biết.
Miliket vẫn tồn tại và có thị phần ổn định, song sức ép đang gia tăng ngày càng khốc liệt.
Phân khúc Miliket tham gia có lợi nhuận thấp nên các ông lớn chưa muốn chen chân vào
Cái tên vang bóng một thời nhưng không chết theo bạn cũ. Đứng ngoài cuộc chiến của những tay chơi trẻ hôm nay nhưng vẫn giành được thị phần đáng kể. Chúng ta đang nói tới Miliket - Colusa.
Đã có nhiều thương hiệu Việt vang bóng một thời, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang hướng thị trường, với nguồn lực yếu hơn hẳn không thể đầu tư để tiếp tục phát triển nên đã dần mai một hoặc bị các doanh nghiệp ngoại thâu tóm. Có thể kể đến như P/S, Dạ Lan, Daso, Ha So, Thorakao. Miliket - Colusa không nằm trong số đó.
5% thị phần quý giá
Colusa - Miliket từng được xem là thương hiệu độc quyền trên thị trường mì gói vào thập niên 70-80 của thế kỷ trước. Nói đến mì gói vào thời điểm đó, nhiều người vẫn nhớ đến gói mì có hình ảnh 2 con tôm của hãng mì Colusa, sau này được ghép thêm tên Miliket thành Colusa - Miliket hay là mì tôm Thiên Hương.
Tuy nhiên, cuộc chơi ngày nay đã hoàn toàn thay đổi. Theo thống kê của Hiệp hội Mì ăn liền thế giới, hiện tại Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất nhưng sản lượng chủ yếu tập trung vào các công ty lớn như Vina Acecook, Asia Foods và Masan.
Trong đó, Vina Acecook (100% vốn Nhật) đang chiếm khoảng 50% thị trường, Asia Foods chiếm hơn 20%, đứng thứ ba là Masan. Có thể thấy hàng loạt chiến dịch quảng cáo của Vina Acecook, Asia Foods và Masan nhưng hiếm khi thấy hình ảnh Miliket xuất hiện. Vậy nhưng Miliket vẫn có một chỗ đứng khá ổn định trên thị trường.
Báo cáo tổng kết công tác hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2012 của Công ty Cổ phần Lương thực Thực phẩm Colusa - Miliket cho thấy, năm 2102 tổng các sản lượng mì gói mà công ty này đưa ra thị trường là 17.484 tấn, với tổng doanh thu 540 tỉ đồng.
Không công bố đơn vị gói, nhưng với sản lượng như trên nếu tính khối lượng một gói mì trung bình là 70 gr thì Miliket đã bán được ít nhất 249 triệu gói.
Doanh thu và lợi nhuận của Miliket qua các năm
Với con số này và theo công bố của Hiệp hội Mì ăn liền Thế giới về tiêu thụ mì ăn liền trong năm 2012 với sản lượng gần 5,1 tỉ gói (ly) của Việt Nam, thì Miliket chiếm gần 5% thị trường. Điều gì có thể khiến Miliket có thể tồn tại trong một sân chơi cạnh tranh khốc liệt như vậy?
Chiến lược giá thấp
Trước hết, Colusa - Miliket đã giữ gần như nguyên vẹn hình ảnh bao bì để khai thác thế mạnh ký ức. Vẫn hình ảnh 2 con tôm chụm đầu vào nhau, vẫn bao giấy giản dị quen thuộc của ngày xưa.
Tiếp đến, giá bán của Miliket khá thấp. Hiện một gói mì bao bì giấy Kraff của họ giá khoảng 2.900 đồng/gói 80 gr. Mức giá này gần như là thấp nhất so với sản phẩm của các doanh nghiệp lớn.
Để có mức giá thấp, một trong những chiến lược của Miliket là tối thiểu hóa chi phí. Theo báo cáo của Công ty, việc thực hiện tốt công tác quản lý sản xuất, tiết kiệm, giảm định mức tiêu hao nhiêu liệu, tăng thu hồi thành phẩm đã giúp họ tiết kiệm được gần 4,5 tỉ đồng trong năm 2012.
Đây cũng là lý do vì sao Miliket không sử dụng các chiến dịch truyền thông.
“Cách truyền thông của Miliket là không cần phải tốn nhiều tiền. Đó là quảng bá chủ yếu trực tiếp vào người tiêu dùng bằng những hoạt động cụ thể như tham gia hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, hàng Việt về nông thôn, trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua nhân viên bán hàng tại các chợ bán lẻ, chợ đầu mối và các đại lý”, ông Nguyễn Văn Út, Tổng Giám đốc Công ty Colusa - Miliket, cho biết.
Để giữ thị phần, Miliket chấp nhận một tỉ suất lợi nhuận rất thấp. Năm 2012, lợi nhuận Công ty chỉ đạt 31,2 tỉ đồng trên tổng doanh thu 540 tỉ đồng. Thực tế, kết quả kinh doanh những năm qua của công ty này cũng cho thấy, mặc dù sản lượng tiêu thụ của Miliket tăng lên nhưng lợi nhuận lại không tăng với tỉ lệ tương xứng.
Ngoài giá thấp, cũng như nhiều doanh nghiệp Việt khác, mở rộng thị trường nông thôn và mở rộng ra phía Bắc cũng là hướng đi được Miliket lựa chọn. Cụ thể, theo báo cáo của Miliket, một trong những công tác thị trường ưu tiên năm 2013 của Công ty là tăng sản lượng, doanh số tại các khu vực vùng sâu vùng xa.
Tồn tại được bao lâu?
Miliket vẫn tồn tại và có thị phần ổn định, song sức ép đang gia tăng ngày càng khốc liệt, nên chiến lược này chỉ có thể thích hợp cho một giai đoạn nhất định.
“Phân khúc mà Miliket tham gia có lợi nhuận thấp nên những ông lớn khác chưa muốn chen chân vào, nhưng không ai có thể bảo đảm Miliket có thể giữ vững vị trí. Cạnh tranh khốc liệt cộng với sự khó khăn khiến nhiều doanh nghiệp quay lại nhòm ngó phân khúc giá rẻ. Do đó, thị trường mà Miliket tham gia thực sự cũng rất rủi ro”, ông Đỗ Hòa, CEO kiêm chuyên gia tư vấn của Công ty IME Việt Nam, nhận định.
Điều này đã bắt đầu diễn ra trên thực tế. Sau khi tham gia thị trường mì gói với dòng sản phẩm ở phân khúc cao cấp là Omachi, Masan đang tấn công sang dòng mì gói ở phân khúc bình dân như mì Kokomi, Tiến Vua...
Theo một chuyên gia trong ngành, xu hướng phát triển là các công ty mì gói sẽ tập trung vào chiều sâu và đa dạng hóa sản phẩm với mì gói, mì ly, mì tô, mì không chiên, mì tươi.
Có lẽ như ban lãnh đạo Miliket đã nắm bắt được xu hướng phát triển này của thị trường mì gói nên đã có những chiến lược mới trong việc đa dạng hóa sản phẩm.
Hiện tại bên cạnh dòng sản phẩm mì gói, Miliket đang phát triển mạnh thêm những sản phẩm từ gạo như phở ăn liền, hủ tiếu ăn liền. “Cạnh tranh trong ngành diễn ra rất gay gắt, nhưng các sản phẩm chế biến từ gạo phục vụ cho thị trường nội địa vẫn còn rất lớn”, ông Út cho biết.
Ngoài ra để tăng tính cạnh tranh, giảm áp lực ở thị trường nội địa Miliket cũng đang đẩy mạnh việc xuất khẩu. Theo kế hoạch kinh doanh năm 2013 của Miliket, tổng sản lượng xuất khẩu mục tiêu đặt ra là 1.800 tấn, chiếm 10% tổng sản lượng.

Giới thiệu cùng bạn việc Coca-Cola lên tiếng về nghi án chuyển giá tại Việt Nam

Phó Chủ tịch điều hành của Coca-Cola cho hay, tại những thị trường mà Tập đoàn hiện diện, có nhiều thị trường sẽ sinh lợi chỉ trong vòng 3-4 năm, nhưng cũng có những thị trường phải mất hàng chục năm, thậm chí 25 năm mới có lợi nhuận. Ngay cả thị trường thành công nhất của Coca-Cola ở thời điểm này cũng đã phải trải qua 25 năm không hề mang lại lợi nhuận.
Việc chưa có lợi nhuận ở Việt Nam sau gần 20 năm đầu tư được Phó Chủ tịch Coca-Cola giải thích do năng suất lao động ở Việt Nam chưa cao và quy mô chưa đủ lớn. Ngoài Việt Nam, có những thị trường khác phải mất 25 năm mới sinh lời.
Chiều 6/6, trong một buổi gặp mặt báo chí sau các cuộc tiếp xúc với các Bộ ngành thuộc Chính phủ Việt Nam, hai lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn đa quốc gia Coca-Cola đã chia sẻ khá thẳng thắn và chấp nhận phản hồi mọi chất vấn của phóng viên liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam thời gian vừa qua của Tập đoàn.
Chưa thể nói bao nhiêu năm tới có lợi nhuận
Ông Irial Finan, Phó Chủ tịch điều hành Coca-Cola - Ảnh: BD
Nói về phương hướng đầu tư của Coca-Cola, ông Irial Finan, Phó Chủ tịch điều hành Coca-Cola cho biết, cũng như 206 thị trường khác, ở Việt Nam, Tập đoàn hướng đến một mục tiêu kinh doanh lâu dài chứ không phải chỉ 10 năm, 20 năm.
“Tất nhiên, cũng như tất cả các doanh nghiệp khác, chúng tôi cũng có mục đích tìm kiếm lợi nhuận – một mục tiêu quan trọng mà mọi doanh nghiệp đều phải có” – ông Irial thừa nhận.
Lãnh đạo Coca-Cola cũng cho biết, trong khi tại những thị trường khác, Tập đoàn thu được lợi nhuận rất cao thì ở Việt Nam, “thành công” lại được định nghĩa theo hướng: “tạo ra mỏ neo bám chặt mảnh đất này để mang lại một sự phát triển bền vững”.
Theo đó, “mỏ neo” mà ông Irial đề cập đến bao gồm đầu tư vào hạ tầng cơ sở, trang thiết bị và nhãn hiệu, tạo ra tình yêu ở người tiêu dùng đối với nhãn hiệu Coca-Cola. Công việc này được cho biết phải mất rất nhiều năm chứ không phải một vài năm.
“Tất nhiên về mặt tài chính chúng tôi chưa có lợi nhuận ở đây, nhưng với những đầu tư hiện tại, chúng tôi chắc chắn sẽ thoát khỏi tình trạng hiện tại và sẽ có lợi nhuận trong những năm sắp tới” – Ông Irial cho hay.
Tuy nhiên, khi phóng viên đặt câu hỏi, bất cứ nhà đầu tư nào cũng đều có những dự trù về thời gian sinh lợi, ông Irial không đưa ra con số cụ thể nào.
“Tôi khẳng định là có. Tuy nhiên, là một nhà quản trị, tôi muốn có lợi nhuận từ hôm qua chứ không phải là bây giờ tôi còn ngồi đây đoán định tương lai. Chúng tôi đang tìm kiếm một quy mô đủ giá trị kinh tế để tạo ra lợi nhuận và không thể có một câu trả lời chính xác về thời gian mà Coca-Cola sẽ sinh lợi.”
Có những thị trường mất 25 năm mới thu lời
Trong khi trao đổi với phóng viên, cả hai đại diện cấp cao của Coca-Cola liên tục nhấn mạnh về yếu tố “niềm tin” trong đầu tư.
Theo đó, niềm tin vào lợi nhuận trong tương lai phụ thuộc vào khả năng Coca-Cola có thể tạo được một quy mô đủ lớn và quy mô đó đến từ những đầu tư mới. Cuối năm ngoái, Coca-Cola đã công bố khoản đầu tư mới 300 triệu USD vào Việt Nam nâng tổng mức đầu tư tới thời điểm hiện nay lên 700 triệu USD.
“Niềm tin đó không phải hoàn toàn là dự cảm chủ quan mà đã được trải nghiệm qua nhiều thị trường khác trước đó”, ông Irial nói.
Phó Chủ tịch điều hành của Coca-Cola cho hay, tại những thị trường mà Tập đoàn hiện diện, có nhiều thị trường sẽ sinh lợi chỉ trong vòng 3-4 năm, nhưng cũng có những thị trường phải mất hàng chục năm, thậm chí 25 năm mới có lợi nhuận. Ngay cả thị trường thành công nhất của Coca-Cola ở thời điểm này cũng đã phải trải qua 25 năm không hề mang lại lợi nhuận.
>> Doanh nghiệp trong nước cũng có dấu hiệu chuyển giá
>> 
Đừng quá sợ hãi về chuyển giá
>> 
Khuôn mặt mới của “cuộc chiến” chống chuyển giá?
>> 
Nghi vấn DN FDI chuyển giá: Bao giờ có kết luận?
>> 
Những bí mật thú vị về Coca-Cola
>> 
Vinamilk vượt Coca-Cola
Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh, niềm tin xuất phát từ việc Coca-Cola cho rằng, Tập đoàn phải làm những điều đúng đắn, coi mình là một phần của cộng đồng. “Khi làm những điều đúng đắn thì chắc chắn lợi nhuận sẽ được tạo ra”.
Theo ông, thị trường nước giải khát không cồn ở Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển ban đầu, còn ở một quy mô rất khiêm tốn. Khi nền tảng thị trường được nâng lên thì quy mô Coca-Cola cũng được nâng lên, đó là lúc có thể tạo ra lợi nhuận.
Trả lời câu hỏi về việc vì sao gần 20 năm đầu tư vào Việt Nam, hưởng nhiều ưu đãi đầu tư, các lợi thế về lao động giá rẻ, về giá điện thấp… song Coca-Cola vẫn lỗ, ông Irial cho hay, chủ yếu do năng suất sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam thấp. Máy móc, công nghệ đầu tư tại các quốc gia đều theo một chuẩn, song ở Việt Nam, phần dư thừa công suất tạo ra lãng phí, do vậy đã đẩy tổng chi phí lên cao và gây ra lỗ.

Khám phá thú vị gia nhiệt cho lẩu Kichi Kichi

Theo phân tích của ông Bình, điểm mạnh nhất của lẩu băng chuyền là thực khách có thể ăn thỏa thích. Nếu như đi ăn lẩu truyền thống, gọi thêm món là phải trả thêm tiền thì với các món ăn “không ngừng chuyển động” của lẩu băng chuyền, thực khách có cơ hội ăn nhiều hơn khoản tiền họ phải trả. Nếu làm cho khách hàng tin rằng, mình trả 1 để ăn 4, Kichi Kichi sẽ thành công.
Với việc mang đến một thói quen ăn uống mới, Kichi Kichi đã thắng trong khởi sự kinh doanh. Nhưng qua đi háo hức ban đầu, giờ đây có vẻ như Kichi Kichi đang bí hướng đi?
Xuất hiện lần đầu tiên tại tầng 1 siêu thị Big C Hà Nội vào tháng 2/2009 với cái tên rất Nhật Bản Kichi Kichi, Golden Gate đã tạo ra một trào lưu mới về cách ăn lẩu cho người Việt: cá nhân hơn và thỏa thích hơn.
Thành công của người dẫn đầu
Sau thành công của nhà hàng đầu tiên, chuỗi nhà hàng Kichi Kichi thực sự bùng nổ như hiệu ứng Domino. Khái niệm “lẩu băng chuyền” cũng vì vậy mà được nhân rộng, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo thực khách.
Từ 1 cửa hàng đến nay, Kichi Kichi đã có 18 nhà hàng, trong đó có 2 nhà hàng vừa mới khai trương ở khu vực Bình Dương và Đồng Nai.
Trước đó, Golden Gate đã từng thử nghiệm đưa Kichi Kichi sang Singapore, nhưng đáng tiếc là không thành công. Tuy vậy, Kichi Kichi vẫn đang chiếm thế thượng phong trên thị trường trong nước (không chỉ duy trì mà còn mở rộng thêm số lượng cửa hàng lên con số 18, trong khi đối thủ trực tiếp như F1 đã phải đóng cửa 2 nhà hàng và website, Coca Express cũng đã đóng cửa 1 nhà hàng…).
Trước đó, chia sẻ với báo giới, ông Nguyễn Cao Trí, Giám đốc Kichi Kichi chi nhánh TP.HCM cho biết, năm 2012, mặc dù doanh thu của đơn vị này không tăng, nhưng lợi nhuận tăng 10% nhờ những cắt giảm chi phí không cần thiết.
Theo ông Nguyễn Quốc Bình, Trưởng phòng marketing hệ thống nhà hàng Sen, một người có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu về các chuỗi nhà hàng, thì sở dĩ Golden Gate thành công với thương hiệu Kichi Kichi là do họ đã dám đi tiên phong trong việc áp dụng một mô hình kinh doanh mới, một khái niệm ẩm thực mới tại Việt Nam.
Nếu như trước đây, trong tâm thức của mỗi người Việt, khái niệm ăn lẩu là phải ăn tập thể, nhiều người quây quần bên nồi lẩu, vừa ăn vừa giao tiếp, uống rượu và trò chuyện thì từ khi Kichi Kichi xuất hiện, một quan niệm mới về ăn lẩu ra đời: cách ăn hiện đại hơn, cá nhân hơn, ít có không gian cho sự giao tiếp tập thể hơn vì khoảng cách hai người đối diện và cả ngồi ngay cạnh nhau đều xa hơn bình thường, muốn cụng ly cũng khó, nên xét về bản chất đó là một hành vi ăn uống mới.
Không chỉ có lợi thế của người dẫn đầu, cũng như các nhà hàng khác trong chuỗi của Golden Gate, Kichi Kichi thường được đặt ở các vị trí chiến lược như ở các tuyến đường lớn, đi lại thuận tiện, các trung tâm thương mại, siêu thị lớn nên dễ dàng tạo ra sức hút với khách hàng. Bên cạnh đó, trong chiến lược marketing của mình, Golden Gate rất chú trọng đến công tác quảng bá, marketing (xuất hiện trên các báo về ẩm thực, các hoạt động trên facebook, website mang tính cộng đồng như lamchame, webtretho…) để nhắm vào các khách hàng mục tiêu.
“Golden Gate làm SEO (tối ưu hóa công cụ tìm kiếm) rất tốt. Backlink của họ rải khắp nơi, tìm kiếm các từ khóa liên quan đến lẩu đều ra thương hiệu của họ trong những kết quả đầu tiên”, ông Bình nhấn mạnh.
Với lợi thế của người đi đầu, Kichi Kichi sớm tạo được một lượng khách hàng của riêng mình và dẫn đầu thị trường. Tuy nhiên, Kichi Kichi thuộc chuỗi nhà hàng lẩu băng chuyền cao cấp nên mức giá của đơn vị này cũng thuộc top cao nhất (hiện dao động ở mức 189-219 nghìn đồng/suất, cao hơn các chuỗi nhà hàng khác trung bình từ 30-50 nghìn đồng/suất).
Mặc dù đơn vị này vẫn đang liên tục đưa ra các chương trình khuyến mãi, nhưng theo nhận định của các chuyên gia marketing, trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, nếu vẫn duy trì ở mức giá cao thì Kichi Kichi sẽ khó tạo ra sức hút.
Thêm vào đó, người Việt cũng đã qua thời tò mò và vẫn chưa thực sự mặn mà với lẩu băng chuyền. Trong bối cảnh ấy, cộng với chi phí mặt bằng đắt đỏ, liệu Kichi Kichi có giữ vững được vị thế của người dẫn đầu và tiếp tục”hot” như thuở mới ra đời?
Muốn “hot”: hãy tập trung vào sản phẩm
Tự nhận là người yêu thích các thương hiệu của Golden Gate, ông Bình cho rằng, có nhiều cách để Kichi Kichi nói riêng và các thương hiệu khác nói chung duy trì “nhu cầu gốc” về lẩu băng chuyền, trong đó, việc tập trung vào đặc tính của sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng nhất.
Theo phân tích của ông Bình, điểm mạnh nhất của lẩu băng chuyền là thực khách có thể ăn thỏa thích. Nếu như đi ăn lẩu truyền thống, gọi thêm món là phải trả thêm tiền thì với các món ăn “không ngừng chuyển động” của lẩu băng chuyền, thực khách có cơ hội ăn nhiều hơn khoản tiền họ phải trả. Nếu làm cho khách hàng tin rằng, mình trả 1 để ăn 4, Kichi Kichi sẽ thành công.
Do đặc điểm lẩu băng chuyền là ăn mang tính cá nhân, ít phải giao tiếp với người khác nên khách hàng sẽ có nhiều thời gian hơn trong việc nhìn ngắm các món ăn. “Do đó chất lượng món ăn sẽ được khách hàng chú ý hơn.
Điều đó đồng nghĩa với việc Kichi Kichi cần sự đầu tư về nội dung của chiến lược kinh doanh mà ở đó các món ăn là trung tâm. Bên cạnh đó, nhà hàng cần phải đưa ra nhiều hoạt động để khách hàng cảm giác bớt đi sự bất tiện của lẩu băng chuyền”, ông Bình phân tích thêm.
Hiện nay, để thu hút khách hàng, Kichi Kichi liên tục đưa ra nhiều chương trình khuyến mại như tặng voucher, giảm 5% cho khách sử dụng thẻ G-People, giảm 10% cho khách khi đi nhóm 10 người trở lên, đặc biệt là kết hợp với các website mua theo nhóm giảm giá cho khách hàng…
Tuy nhiên, cũng theo ông Bình, trong kinh doanh, chỉ số về doanh thu và thị phần có thể vẫn tăng đều, nhưng chưa đủ để đảm bảo một chỉ số phát triển bền vững trong kinh doanh. Nếu doanh thu chủ yếu đến từ khách hàng mới – do tiền marketing bỏ ra và do chưa hiểu hết về quy mô thị trường – thì đó là dấu hiệu cho thấy nhu cầu gốc về lẩu băng chuyền đang giảm.
Và gợi ý mà chuyên gia marketing này đưa ra là: “Muốn tăng số lượng khách hàng quay trở lại lần sau, các nhà hàng lẩu băng chuyền phải cải thiện các dịch vụ chăm sóc khách hàng như ban hành chính sách khách hàng, chương trình để họ thể hiện lòng trung thành với doanh nghiệp, cải thiện trải nghiệm sản phẩm…”.
Và chắc hẳn, dẫu thị trường khó khăn, nhưng Golden Gate vẫn muốn băng chuyền Kichi Kichi quay đều và việc thu hút khách hàng sẽ được chú trọng trong các chiến lược kinh doanh của họ.

Đi tìm câu trả lời cho: Chống bán phá giá hay tham vọng độc quyền thị trường inox?

Tuy nhiên, sau khi đề xuất của hai doanh nghiệp trên gửi tới Bộ Công Thương, hơn 20 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ inox, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp sản xuất inox trên thế giới tại Việt Nam đồng loạt lên tiếng rằng, nếu áp thuế chống bán phá giá như kiến nghị của Posco VST và Hòa Bình Inox, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ inox sẽ bị đẩy vào “đường cùng”, và nguy cơ Posco VST và Hòa Bình Inox độc quyền thị trường inox tại Việt Nam là “hiện hữu”.
Posco VST và Hòa Bình Inox vừa gửi đơn lên Bộ Công Thương yêu cầu điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm inox được nhập khẩu vào Việt Nam.
Hơn 20 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ inox, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp sản xuất inox trên thế giới tại Việt Nam đồng loạt phản đối kiến nghị của Posco VST và Hòa Bình Inox
Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) cho biết, ngày 6/5/2013 Cục đã nhận được hồ sơ của Công ty TNHH Posco VST và Công ty Cổ phần Inox Hòa Bình (Hòa Bình Inox) yêu cầu điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm thép không gỉ (inox) cán nguội, nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia và Indonesia.
Theo quy định, trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Công Thương sẽ ra quyết định có hay không khởi xướng điều tra vụ việc này.
Lý do được Posco VST và Hòa Bình Inox, hai doanh nghiệp đang chiếm khoảng 80% thị phần inox tại Việt Nam đưa ra, là do giá inox nhập khẩu từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và Đài Loan đều thấp hơn khoảng 25% so với giá các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước, thậm chí thấp hơn giá thành tại chính thị trường của họ.
Đáng chú ý là trong vòng 3 năm, từ 2009 - 2011, sản phẩm inox nhập khẩu vào Việt Nam đã tăng tới 34%. Vì thế, hai doanh nghiệp này kiến nghị mức áp thuế chống bán phá giá trung bình là 20% đối với các sản phẩm inox được nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia và Indonesia.
Tuy nhiên, sau khi đề xuất của hai doanh nghiệp trên gửi tới Bộ Công Thương, hơn 20 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ inox, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp sản xuất inox trên thế giới tại Việt Nam đồng loạt lên tiếng rằng, nếu áp thuế chống bán phá giá như kiến nghị của Posco VST và Hòa Bình Inox, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ inox sẽ bị đẩy vào “đường cùng”, và nguy cơ Posco VST và Hòa Bình Inox độc quyền thị trường inox tại Việt Nam là “hiện hữu”.
Hơn 20 doanh nghiệp trên đang nhập khẩu các chủng loại inox cán nóng, cán nguội từ Phần Lan, Đức, Brazil, Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia…, phục vụ dân dụng, công nghiệp, an ninh quốc phòng cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
Đại diện các doanh nghiệp này liệt kê, nếu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, "giá thành của sản phẩm cuối cùng tăng cao do giá nguyên liệu tăng, làm tác động trực tiếp đến giá bán", "giá thành công nghiệp chế tạo, dầu khí, công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, y tế… đối diện với nguy cơ suất đầu tư bị tăng cao".
“Đây là một đề nghị nhằm hướng tới sự độc quyền, thao túng thị trường”, lãnh đạo một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ inox nói.
“Hệ lụy lớn nhất nếu áp dụng biện pháp chống bán phá giá sẽ dẫn tới độc quyền nhóm trong việc sản xuất sản phẩm thép không gỉ cán nguội do nguồn nguyên liệu sản xuất thép không gỉ cán nguội là thép không gỉ cán nóng chưa sản xuất được tại Việt Nam; các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có nguy cơ bị thua lỗ lớn do ký hợp đồng khung nhận hàng với sản lượng lớn từ các nhà nhập khẩu nước ngoài”, đại diện các doanh nghiệp trên lo ngại, và cho biết “đang lấy chữ ký lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất để sang tuần sẽ gửi công văn kiến nghị lên Bộ Công Thương, phản đối về yêu cầu áp thuế chống bán phá giá của Posco VST và Hòa Bình Inox”.

Tìm hiểu câu chuyện sôi sục nước giải khát

Nếu như trong lĩnh vực nước giải khát có gas các doanh nghiệp Việt phải ẩn nấp ở thị trường nông thôn, sản phẩm phải chạy theo các doanh nghiệp lớn thì với mảng không gas Tân Hiệp Phát đã đánh thẳng vào các thị trường trọng điểm, thách thức cả Coca-Cola lẫn Pepsi. Và chính Tân Hiệp Phát chứ không phải một doanh nghiệp đa quốc gia nào khác tạo ra xu hướng sản phẩm khiến 2 ông này phải chạy theo.
"Tăng đầu tư, lấy lại thị phần đã mất”. Đó là một trong những nội dung được một doanh nhân đặt ra khi trúng cử chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị một công ty trong ngành nước giải khát vào mùa đại hội cổ đông vừa qua (ông không muốn nêu tên trong câu chuyện này).
Công ty nước giải khát này được xem là có tuổi đời lâu nhất trên thị trường nước giải khát Việt Nam. Tuy nhiên, do quản lý yếu kém cùng với nguồn lực có hạn, thương hiệu này dần bị mai một. Hiện nay họ chỉ hoạt động cầm chừng, tập trung vào thị trường nông thôn, bán giá rẻ và chấp nhận lợi nhuận thấp.
Từng giữ vị trí Giám đốc Điều hành một tập đoàn đồ uống lớn của Việt Nam (cũng là công ty mẹ của công ty nước giải khát nói trên), ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch với kỳ vọng sẽ đưa Công ty trở lại thời kỳ huy hoàng.
Tuy nhiên, chưa đầy 2 tháng kể từ ngày Đại hội, chúng tôi gặp lại ông nhằm tìm hiểu về chiến lược mới thì nhận được một sự thật hoàn toàn khác. “Chưa thể tính chuyện đầu tư đâu. Bây giờ phải tính cách cầm cự để tồn tại được”, vị doanh nhân này nói.
Cú đánh trực diện của 2 ông lớn
Nguyên nhân khiến vị doanh nhân kia thay đổi quan điểm chính là bản báo cáo thị trường được các nhân viên kinh doanh gửi về sau khi ông nhậm chức Chủ tịch được 2 tuần. Theo báo cáo, Coca-Cola và Pepsi đang đồng loạt giảm giá một số mặt hàng nước giải khát, đặc biệt nhất là sản phẩm đóng chai thủy tinh 330 ml vốn đang cạnh tranh trực tiếp với công ty này.
Cụ thể, mỗi két 24 chai Pepsi giảm từ 66.000 đồng xuống còn 46.000 đồng. Coca-Cola thì giảm giá bằng cách khuyến mãi mua 1 két tặng thêm 6 chai. Mức giảm giá còn tùy thuộc vào khu vực và dòng sản phẩm, nhưng những khu vực quanh TP.HCM như miền Đông hoặc miền Tây Nam Bộ được giảm mạnh hơn.
Ông Phạm Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty Tư vấn Chiến lược Left Brain Connectors, cho rằng, có nhiều nguyên nhân để lý giải cho động thái giảm giá này.
Đây có thể chỉ là chiến thuật ngắn hạn nhằm giải phóng hàng tồn kho thông thường, hoặc hỗ trợ đại lý đẩy doanh thu. Tuy nhiên, cũng có khả năng đây là chiến lược dài hạn của họ nhằm “xóa sổ” sản phẩm đóng chai thủy tinh, chuyển hẳn sang chai PET và lon.
Thị trường nước giải khát Việt Nam tuy đã qua thời kỳ tăng trưởng nóng nhưng tiềm năng tăng trưởng vẫn rất hấp dẫn - Nguồn: Business Monitor International
Nhận định này không phải không có cơ sở, bởi nước ngọt chai thủy tinh hiện chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu của Pepsi và Coca-Cola, trong khi hiệu quả kinh doanh không cao.
Theo ông Đỗ Thanh Năm, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Chiến lược Win - Win, so với chai nhựa PET và lon thì nước ngọt chai thủy tinh có nhiều nhược điểm như chi phí vận chuyển, thu hồi chai cao, trong khi bán giá thấp nên biên lợi nhuận không cao.
Tuy nhiên, dù mục tiêu thực sự của họ là gì thì việc hạ giá này cũng là một cú huých mạnh vào thị trường nước giải khát vốn đang bước vào mùa sôi động.
“Giảm giá các sản phẩm đóng chai thủy tinh là đánh trực diện vào các doanh nghiệp Việt như Bidrico, Chương Dương”, ông Nguyễn Đặng Hiến, Tổng Giám đốc Công ty Tân Quang Minh, đơn vị sở hữu thương hiệu Bidrico, nhận định.
Theo ông, thị trường nước ngọt có gas và dùng chai thủy tinh chủ yếu phát triển mạnh ở nông thôn nhờ giá rẻ và đang được các doanh nghiệp nước uống Việt Nam chiếm giữ.
Trước đây, các đại gia quốc tế này đã từng giảm giá nước ngọt đóng chai nhựa để giành thị phần ở nông thôn nhưng không thành công, vì đối với khách hàng nông thôn sản phẩm này có giảm giá cỡ nào cũng vẫn đắt hơn chai thủy tinh.
Hệ quả của những cú đánh này là gì? Trâu bò húc nhau ruồi muỗi cũng chết, huống hồ là trâu bò cố tình húc con muỗi.
“Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam, do nguồn lực hạn chế, đã chọn phân khúc thấp nhất trên thị trường để ẩn náu. Chỉ cần các đại gia tấn công vào thị trường này bằng cách giảm giá một thời gian là doanh nghiệp Việt có thể bị đánh gục”, ông Đỗ Hòa, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Chiến lược IME, nhận định.
Chuyện tương tự đã từng xảy ra trên thị trường nước giải khát. Là doanh nghiệp sản xuất nước ngọt thành công nhất trên thị trường nội địa những năm đầu thập kỷ 90, tuy nhiên Tribeco đã bị Pepsi và Coca-Cola đánh bật ra khỏi thị trường bằng chiêu giảm giá.
Cụ thể, vào năm 1998, Coca-Cola giảm giá 30%, giá giao cho đại lý là 800 đồng/chai; loại chai lớn giảm từ 31.200 đồng còn 20.600/đồng két. Pepsi cũng giảm giá từ 31.200 đồng xuống còn 20.000 đồng/két.
Ngay lập tức, để đối phó, Tribeco phải hạ giá sản phẩm từ 950 đồng còn 660 đồng/chai (giá giao tại đại lý). Tuy nhiên, trong cuộc chơi tài chính, người ít tiền sẽ không bao giờ thắng kẻ nhiều tiền.
Sản lượng Tribeco giảm từ 30 triệu lít (1998) xuống còn 4 triệu lít (2000), lợi nhuận từ 6,8 tỉ đồng chỉ còn 0,2 tỉ đồng. Tribeco đã chạy khỏi lĩnh vực nước uống có gas và nhảy sang vùng đất mới là sữa đậu nành đóng chai, đóng hộp và nước trái cây tươi.
Giờ đây, chiêu giảm giá tuy cũ nhưng luôn đắc dụng đang được 2 ông lớn tung trở lại. Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo?
Đối trọng Tân Hiệp Phát
Theo thống kê của Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam và Công ty Nghiên cứu Thị trường Business Monitor International (BMI), Coca-Cola và Pepsi hiện chiếm hơn 80% thị trường nước giải khát Việt Nam. Với vị thế như vậy, tại sao 2 ông lớn này vẫn đánh quyết liệt vào lĩnh vực nước giải khát có gas?
“Có thể họ muốn lấy hết thị trường nước giải khát có gas trước, sau đó sẽ tập trung cho mảng không gas”, ông Hiến Bidrico nhận định.
Quả thật, mặc dù gần như đã độc tôn trong lĩnh vực nước ngọt có gas, nhưng cả 2 hãng này vẫn chưa thể chiếm được thị trường nước giải khát không gas vốn đang tăng trưởng rất nhanh tại Việt Nam. Trong lĩnh vực này, Coca-Cola và Pepsi đang đối đầu với một doanh nghiệp Việt không hề kém cạnh họ là Tân Hiệp Phát.
Trường hợp của Tân Hiệp Phát là một câu chuyện cho thấy việc tìm ra thị trường ngách quan trọng như thế nào khi cạnh tranh với các công ty đa quốc gia.
Năm 2001, Tân Hiệp Phát bỏ thương hiệu bia Bến Thành vốn không thể cạnh tranh nổi với bia Sài Gòn để nhảy sang một thị trường hoàn toàn mới: nước tăng lực. Hương vị đặc biệt, đánh đúng sở thích của giới trẻ, nước uống tăng lực Number 1 của Tân Hiệp Phát đã thành công nhanh chóng.
Sau khi Tân Hiệp Phát thành công với Number 1, Coca-Cola và Pepsi mới tung ra các sản phẩm tương tự là Samurai và Sting để cạnh tranh. Nhưng lúc này, Tân Hiệp Phát đã đủ mạnh để tham gia cuộc chiến truyền thông với 2 đại gia quốc tế.
Ban đầu, Sting không thắng nổi Number 1. Không bỏ cuộc, Pepsi tiếp tục cho ra đời nước uống tăng lực Sting dâu và nhanh chóng thu được thiện cảm, đặc biệt là của giới trẻ và tiến lên dẫn đầu thị trường nước uống tăng lực tại Việt Nam.
Sau khi để mất vị trí số 1 trên thị trường nước tăng lực vào tay Pepsi, năm 2006, Tân Hiệp Phát đã chuyển sang khai phá thị trường trà xanh đóng chai và biến thị trường này thành một sân chơi rất sôi động.
Với vị thế của người tiên phong, quảng cáo sáng tạo, đầu tư kỹ càng về công nghệ, được định vị là sản phẩm có lợi cho sức khỏe, tiện dụng cùng hệ thống phân phối tốt, Trà xanh Không Độ của Tân Hiệp Phát luôn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức 2 con số (năm 2008 tăng trưởng 800%).
Tân Hiệp Phát đang dẫn đầu thị trường trà xanh đóng chai với thị phần 41%
Sức hấp dẫn của sản phẩm này đã kéo theo sự ra đời của một loạt nhãn hiệu trà xanh đóng chai, trong đó tất nhiên không thể vắng mặt các sản phẩm của Coca-Cola và Pepsi.
Pepsi mua lại nhãn hàng Lipton của Unilever và cho ra đời trà đóng chai Lipton Pure Green, chính thức tham gia cuộc chiến vào năm 2008. Không lâu sau đó, Coca-Cola cũng nhảy vào bằng dòng sản phẩm Tea Left.
Tuy nhiên, cả 2 hãng này vẫn chưa thể lật được thế cờ như đối với mặt hàng nước tăng lực. Theo thống kê của BMI, năm 2011 Tân Hiệp Phát dẫn đầu thị trường trà xanh với 41% thị phần.
Trong khi Pepsi đang rượt đuổi theo dòng trà xanh thì cuối năm 2008, Tân Hiệp Phát tiếp tục tung ra sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr Thanh, dòng sản phẩm định vị có lợi cho sức khỏe và cũng đã gây tiếng vang trên thị trường. Mới đây nhất, cũng trong dòng sản phẩm này, Tân Hiệp Phát đã cho ra đời sản phẩm Number 1 Vitamin (nước uống bổ sung vitamin) với vị cam, đóng chai nhựa 350 ml.
Nếu như trong lĩnh vực nước giải khát có gas các doanh nghiệp Việt phải ẩn nấp ở thị trường nông thôn, sản phẩm phải chạy theo các doanh nghiệp lớn thì với mảng không gas Tân Hiệp Phát đã đánh thẳng vào các thị trường trọng điểm, thách thức cả Coca-Cola lẫn Pepsi. Và chính Tân Hiệp Phát chứ không phải một doanh nghiệp đa quốc gia nào khác tạo ra xu hướng sản phẩm khiến 2 ông này phải chạy theo.
Cuộc chiến ở phía trước
Tuy nhiên, vị thế dẫn đầu thị trường nước giải khát không gas của Tân Hiệp Phát không phải là mãi mãi, cho dù họ vẫn đang tăng tốc đầu tư.
Theo thông tin từ Tân Hiệp Phát, công ty này đang đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất nước giải khát Number One Chu Lai tại Khu Công nghiệp Bắc Chu Lai (Quảng Nam) với vốn đầu tư 1.820 tỉ đồng. Ngoài ra, một nhà máy khác ở Hà Nam cũng đang được công ty này triển khai xây dựng.
“Không phải đợi thị trường mà các doanh nghiệp Việt Nam phải sáng tạo hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Ra sản phẩm mới là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong thời điểm cạnh tranh khốc liệt này. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nỗ lực chủ quan. Những yếu tố khách quan vẫn rất khó lường”, ông Trần Quý Thanh, Chủ tịch Tân Hiệp Phát, cho biết.
Rõ ràng, không phải chỉ có Tân Hiệp Phát tăng tốc đầu tư. Số tiền Coca-Cola và Pepsi cam kết rót vào Việt Nam còn lớn hơn rất nhiều. Cuối năm 2012, ông Muhtar Kent, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Tập đoàn Coca-Cola đã đến Việt Nam và công bố sẽ tiếp tục đầu tư thêm 300 triệu USD trong 3 năm tới.
Trước đó, năm 2009, nhà lãnh đạo này đã chọn Việt Nam là thị trường cần đến thăm ngay sau khi nhậm chức, cùng khoản đầu tư 200 triệu USD đi kèm.
Không kém cạnh, Pepsi cũng liên tục khai trương các nhà máy mới ở Đồng Nai (45 triệu USD) và Bắc Ninh (73 triệu USD). Mới đây, Pepsi đã bán lại 51% cổ phần cho Tập đoàn Suntory của Nhật. Suntory được thành lập từ năm 1899, cho đến nay đã có hơn 200 công ty con và 28.500 nhân viên tại Nhật, Mỹ, châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương.
Công ty đồ uống đa quốc gia này hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ chăm sóc sức khỏe, thực phẩm cho đến nhà hàng và hoa. Năm 2011, tổng doanh thu của Hãng là hơn 23 tỉ USD.
Với sự tham gia của cổ đông mới này, chắc chắn Pepsi sẽ không chịu đứng bên ngoài cuộc chơi nước giải khát không gas. Thế mạnh am hiểu người tiêu dùng châu Á và sáng tạo trong việc đưa ra các dòng sản phẩm từ thảo mộc, có lợi cho sức khỏe của Tân Hiệp Phát có thể bị đe dọa khi Pepsi có thêm hậu thuẫn từ đối tác Nhật này.
Khi đó, ngay cả khu vực an toàn của Tân Hiệp Phát là mảng nước uống không gas cũng có thể sẽ dậy sóng. Việc Coca-Cola và Pepsi giảm giá nước ngọt có gas mặc dù không đánh trực diện vào Tân Hiệp Phát, nhưng theo ông Trần Quý Thanh nó cũng phần nào tác động đến dòng sản phẩm không gas của tập đoàn này.
“Một khi người ta đã uống no loại nước này rồi thì không thể uống được thứ khác”, ông nói.
Lo lắng lớn nhất của ông Thanh là không biết Coca-Cola và Pepsi sẽ làm gì với số vốn đầu tư lớn như vậy. “Họ đã sử dụng sức mạnh tài chính để thống lĩnh thị trường nước có gas. Không ai dám chắc họ sẽ không sử dụng sức mạnh này trong lĩnh vực nước không gas”, ông nhận xét.
Theo ông Năm, Công ty Win - Win, việc một hay nhiều nhãn hàng hạ giá là chuyện luôn xảy ra trên thị trường. Muốn tham gia cuộc chơi công bằng, doanh nghiệp phải có khả năng chuyển đổi nhanh sản phẩm.
“Việc Pepsi và Coca-Cola hạ giá sản phẩm đóng chai thủy tinh có khi lại là một động lực tốt để thúc đẩy các doanh nghiệp nước giải khát Việt Nam nhanh chóng chuyển đổi sang loại chai PET với nhiều ưu điểm hơn”, ông nói.
Tuy nhiên, nếu thế độc quyền được thiết lập, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt thòi nhất. Năm 2000, sau khi hạ giá để triệt Tribeco, Coca-Cola đã ngay lập tức tăng giá bán lên 2.000 đồng/chai. Tân Hiệp Phát đã tận dụng thời cơ nhảy vào thị trường.
Với cuộc chiến sắp tới, biết đâu có thể Tân Hiệp Phát sẽ là nạn nhân như Tribeco trước kia. “Tuy nhiên, sẽ khó có thể có được một Tân Hiệp Phát thứ hai một khi 2 ông lớn này nắm cả thị trường nước uống không gas và có gas”, ông Thanh nhận định.

Chia sẻ kinh nghiệm Kinh doanh điện máy: Ngoại lực trợ lực


Ông Chris Freund, Tổng giám đốc Công ty quản lý quỹ Mekong Capital, giải thích về quyết định bán cổ phần tại Thế giới Di động: "Năm 2012, khi nhà đầu tư yêu cầu mua 20% phần đầu tư của chúng tôi, chúng tôi chấp nhận vì chỉ bán một phần cổ phần và lợi nhuận đã gấp 11 lần so với khi đầu tư. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng rút ra bài học rằng tốt nhất là nên thoái vốn từng phần hơn là bán toàn bộ khoản đầu tư một lần. Chúng tôi dự kiến sẽ bán thêm cổ phần tại thời điểm Công ty niêm yết vào đầu năm 2014".
Nhà đầu tư ngoại sẽ giúp Thế giới Di động và Dienmay.com bật lên trong năm 2014?
Cắn răng mở trung tâm mới
Ngày 9/6, Công ty Thiên Nam Hòa (chủ đầu tư hệ thống Trung tâm điện máy Thiên Hòa) đã mở cửa trung tâm mua sắm thứ 6 tại 659 Âu Cơ, quận Tân Phú, TP.HCM. Trung tâm có vốn đầu tư 40 tỷ đồng với tổng diện tích kinh doanh 5.000m2.
Ông Nguyễn Quang Hòa, Tổng giám đốc Công ty Thiên Nam Hòa, cho biết, 40 tỷ đồng chỉ là kinh phí cho xây dựng, nếu tính cả hàng hóa và các trang thiết bị, quầy kệ kinh doanh, con số này tăng lên gấp đôi.
Trước Thiên Hòa, cuối tháng 1/2013, Công ty CP Thương mại Nguyễn Kim cũng đã đồng loạt khai trương 6 trung tâm mới tại TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Cà Mau, nâng tổng số hệ thống lên 21 trung tâm. Cùng thời gian này, hệ thống siêu thị Pico đã chính thức mở cửa trung tâm kinh doanh phức hợp tại TP.HCM có tổng diện tích 55.000m2.
Đây được xem là dự án đầu tiên trong chiến lược "Nam tiến", mở rộng quy mô hoạt động của Pico tại TP.HCM. Ở phía Bắc, trong tháng 5/2013, Công ty Trần Anh đã cùng lúc khai trương 3 siêu thị điện máy mới tại Hà Nội.
Sự rầm rộ của các trung tâm mới không giấu được thực tế là kinh doanh của các trung tâm điện máy hiện có hiệu quả rất thấp. Thị trường điện máy 4 tháng đầu năm tiếp tục đi xuống với doanh số ước tính giảm khoảng 30% so với cùng kỳ 2012.
Theo nguồn tin của Doanh Nhân Sài Gòn, sau ba tháng hoạt động, "bộ sậu" của Công ty TNHH MTV Pico Sài Gòn - pháp nhân của Pico tại TP.HCM đã không còn. Hiện tại, mọi hoạt động của Pico Sài Gòn được trao lại cho Pico Hà Nội quản lý. Trong khi đó, các trung tâm mới của Nguyễn Kim sau một thời gian ồ ạt ra mắt vẫn chưa có lãi.
Lợi nhuận của DN này chủ yếu đến từ các trung tâm ra đời trước kia như Nguyễn Kim Trần Hưng Đạo, Nguyễn Kim Tràng Thi... Theo phân tích của một chuyên gia thương hiệu, trong thời điểm kinh tế khó khăn, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu nên sức mua không lớn.
Nhưng để vận hành một trung tâm kinh doanh cần một lượng lớn nhân viên, chi phí quản lý không hề nhỏ. Đã vậy, các trung tâm mới ra đời chưa có khách hàng ổn định nên phải thường xuyên tổ chức các chương trình kích cầu mua sắm. Do đó, lợi nhuận khó có thể đạt được ngay.
Ông Hòa cũng thừa nhận không thể kỳ vọng lợi nhuận từ các trung tâm mới khai trương. Với trung tâm Thiên Hòa Tân Phú, Công ty Thiên Nam Hòa sẽ phải dùng lợi nhuận từ những trung tâm hiện hữu để "nuôi" trung tâm mới mở này trong một năm đầu.
Vẫn xác định mỗi năm có từ 1 - 2 trung tâm mua sắm mới, nhưng ông Hòa cho biết: "Đi chậm mà chắc và tùy thời điểm sẽ có chiến lược phát triển nhanh - chậm khác nhau. Tuy nhiên, đến năm 2020, Thiên Hòa sẽ có thêm từ 20 - 25 trung tâm kinh doanh mới và ưu tiên cho các vùng phụ cận TP.HCM".
Nhà đầu tư ngoại xếp hàng
Trên thực tế, ngành điện máy vẫn còn hết sức khó khăn nhưng tiềm năng thị trường đã hút các nhà đầu tư ngoại. Cuối tháng 3/2013, Công ty CDH Electric Bee Limited đã mua lại 19,88% cổ phần của Công ty Thế giới Di động từ Mekong Capital và các cổ đông sáng lập.
Bên cạnh đó, cựu CEO của Bestbuy, ông Robert Willett cũng đã đầu tư vào công ty này với tư cách là nhà đầu tư cá nhân. Trong khi đó, Quỹ Aureos đã đầu tư khoản tiền 4,2 triệu USD để sở hữu 18,5% cổ phần của Thế giới số Trần Anh.
Lý giải việc mua cổ phần ngành điện máy, các nhà đầu tư ngoại cho rằng, đây là đầu tư vào tương lai chứ không tính đến hiện tại. Bởi, khó khăn trước mắt chỉ là ngắn hạn trong vài năm. Trong khi đó, việc bán cổ phần cho đối tác nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp (DN) trong nước có nguồn tiền dồi dào đưa vào kinh doanh.
Ông Chris Freund, Tổng giám đốc Công ty quản lý quỹ Mekong Capital, giải thích về quyết định bán cổ phần tại Thế giới Di động: "Năm 2012, khi nhà đầu tư yêu cầu mua 20% phần đầu tư của chúng tôi, chúng tôi chấp nhận vì chỉ bán một phần cổ phần và lợi nhuận đã gấp 11 lần so với khi đầu tư. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng rút ra bài học rằng tốt nhất là nên thoái vốn từng phần hơn là bán toàn bộ khoản đầu tư một lần. Chúng tôi dự kiến sẽ bán thêm cổ phần tại thời điểm Công ty niêm yết vào đầu năm 2014".
Hiện nay, thị trường điện máy có quy mô lớn gấp 3 lần thị trường điện thoại, nhưng số DN kinh doanh điện thoại nhiều gấp 10 điện máy. Tuy ít cạnh tranh hơn, nhưng thị trường điện máy hiện nay cũng giống như thị trường điện thoại vài năm trước, sau thời gian sàng lọc, DN có năng lực thực sự sẽ trụ lại.
Dù trong lĩnh vực điện máy, Dienmay.com vẫn chưa thật sự mạnh nhưng ông Nguyễn Đức Tài, Tổng giám đốc Công ty Đầu tư Thế giới Di động (công ty mẹ của Dienmay.com) vẫn nhìn thị trường với rất nhiều cơ hội. Ông Tài cho biết, trong năm nay, Thế giới Di động sẽ tối ưu vận hành 12 siêu thị Dienmay.com.
Và đến năm 2014, Dienmay.com sẽ tăng tốc, mở rộng. "Có thể, trong năm này, Dienmay.com sẽ ồ ạt ra đời như Thegioididong.com thời gian qua", ông Tài tiết lộ.
Làn sóng đầu tư ngoại vào lĩnh vực điện máy mới chỉ bắt đầu nhưng trong thời gian tới sẽ có sự bùng nổ. Vì hiện tại, có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang có nhu cầu mua lại hệ thống bán lẻ tại Việt Nam. Trong đó, ngoài Thế giới Di động và Trần Anh, theo một số nguồn tin, các DN Nhật Bản cũng đang đàm phán với Nguyễn Kim, Pico... để mua cổ phần.
Nếu những cuộc đàm phán này có kết quả thì ngành điện máy sẽ có sự xuất hiện của nhiều nhà đầu tư ngoại, và như vậy cuộc chiến giành thị phần sẽ còn nhiều khốc liệt.

Câu chuyện chân thức: Cà phê tàn tạ hơn cà pháo

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh (BDI), thay vì các cơ sở, DN nhỏ, kể từ năm 2012 đã xuất hiện tình trạng DN có quy mô vừa và lớn lâm vào tình trạng đổ vỡ. Đây thực tế là một cảnh báo. Dễ thấy nhất là trong ngành thủy sản, một trong hai nhóm ngành chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao của Việt Nam (cùng với nhóm hàng nông sản).
Từ giữa năm 2012, nhiều nhà phân tích đã đặt nghi ngại về khả năng Tập đoàn Thái Hòa bị phá sản. Doanh nghiệp sản xuất cà phê lớn nhất nhì Việt Nam này đã quá lạm dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư, nên lún sâu vào nợ nần.
Nợ chồng nợ
Tập đoàn Thái Hòa (THV) là một trong những DN sản xuất cà phê lớn đã có quý thứ 8 liên tiếp thua lỗ. Kết quả này, cộng với thực trạng vốn chủ sở hữu bị âm, nợ ngắn hạn vượt tài sản ngắn hạn, nguy cơ THV dừng hoạt động, bị hủy niêm yết rất dễ xảy ra. Theo báo cáo tài chính quý I/2013, THV vừa trải qua một quý thua lỗ, với mức lỗ là 37,9 tỷ đồng.
Mặc dù đà thua lỗ đã giảm so với cùng kỳ nhưng vẫn làm trầm trọng thêm bức tranh kinh doanh vốn ảm đạm của tập đoàn này. Tính chung, THV lỗ lũy kế hơn 660,4 tỷ đồng. Tính ra, THV bị âm vốn chủ sở hữu 51,7 tỷ đồng. Chỉ riêng thông tin này cũng đủ khiến THV bị hủy niêm yết buộc.
Tuy nhiên, khó khăn nhất cho THV là vướng nợ quá nhiều. Riêng nợ ngắn hạn của THV tại ngày 31/3/2013 đã gần 2.000 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn đã vượt tài sản ngắn hạn hơn 700 tỷ đồng, nghĩa là công ty đang thiếu hụt vốn lưu động nặng nề. Năm 2012, kiểm toán từng lưu ý khả năng dừng hoạt động ở THV.
Xét chi tiết nợ nần, vay ngắn hạn của THV chiếm hơn 1.328 tỷ đồng, nợ dài hạn đến hạn trả là 16,7 tỷ đồng, trái phiếu chuyển đổi 100 tỷ đồng. Theo thông tin tìm hiểu, THV vay nợ ở khoảng 10 ngân hàng như Ngân hàng Phát triển Việt Nam -VDB,Vietcombank, Agribank, Maritime Bank, BIDV, ABBank, SHB, Techcombank và VIB.
Theo kiểm toán, trong các năm 2011, 2012, riêng chi phí lãi vay ở THV đều hơn 200 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với lãi gộp. Nghĩa là doanh nghiệp (DN) làm ra không đủ trả lãi chứ chưa nói đến trả nợ gốc và các khoản chi phí hoạt động khác. Đến quý I/2013, chi phí lãi vay còn vượt cả doanh thu. Từ giữa năm 2012, nhiều nhà phân tích đã đặt nghi ngại về khả năng THV bị phá sản.
Tuy nhiên, cũng ở thời điểm ấy, ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc THV đã lên tiếng trấn an. Giải pháp mà ông An nêu ra là Công ty sẽ huy động thêm vốn từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, đàm phán để cơ cấu lại nợ. Ông An cũng đề cập tới những hợp đồng xuất khẩu mới, những khoản đầu tư ở Lào sẽ sớm có doanh thu...
Tuy nhiên, trên thực tế, doanh thu của THV vẫn liên tục sụt giảm mạnh. Theo đó, doanh thu thuần năm 2011 của THV chỉ còn bằng một nửa so với năm 2010 và doanh thu năm 2012 chỉ bằng 21% năm 2011. Đến quý I/2013, doanh thu của THV cũng giảm hơn 40% so với cùng kỳ.
Công ty đã viện dẫn lý do sụt giảm giá cà phê, chi phí tài chính cao nhưng giới đầu tư cho rằng, quan trọng là THV không bán được hàng. Thêm nữa, quý I/2013, THV còn tồn kho hơn 679,3 tỷ đồng. Trong đó, cà phê thành phẩm và hàng hóa chiếm hơn 500 tỷ đồng.
Riêng nợ nần ở THV vẫn chưa được cải thiện. Theo báo cáo tài chính quý I/2013, nợ ngắn hạn của THV vẫn đang tăng lên trong khi nợ vay dài hạn lại không thay đổi. THV cũng chưa huy động được những nguồn vốn rẻ từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Năm 2011, THV từng tiến hành chào bán 30,25 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, cán bộ và người lao động.
Kết quả, THV chỉ bán được 60 cổ phiếu. THV từng hy vọng ở hợp tác với Haverstock Master Fund sẽ giúp huy động được 315 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc này sau đó đã bị rơi vào quên lãng. Năm 2012, THV lên kế hoạch chào bán 42,25 triệu cổ phiếu cho đối tác chiến lược với giá 6.000 đồng/CP.
Nhưng đến nay, kết quả của kế hoạch này ra sao vẫn chưa thấy nhắc đến. Ông An đã nghĩ đến giải pháp bán bớt một số dự án đầu tư để trang trải nợ nần.Tuy nhiên, ngoại trừ việc bán dự án ở Điện Biên cho Maritime Bank, THV chưa có động thái bán tài sản nào khác.
Hiện tại, giá cổ phiếu của THV đang quanh mức 600-700 đồng/CP. Theo giám đốc một công ty chứng khoán ở TP.HCM, với tình trạng thua lỗ, số liệu còn nhiều nghi vấn và giá cổ phiếu bèo bọt, THV rất khó gọi vốn.
Ngắn cắn dài
Làm sao để THV giảm được nợ, có vốn hoạt động là bài toán nan giải. Tuy nhiên, nếu Thái Hòa chỉ là DN bình thường, có lẽ nhà đầu tư đã không quan tâm và ưu tư nhiều đến thế. Tính đến năm 2013, Tập đoàn Thái Hòa có 17 năm hoạt động. Năm 2009, xuất khẩu cà phê Arabica của THV chiếm hơn 50% của toàn ngành, xuất khẩu cà phê Robusta đứng thứ ba toàn ngành, doanh thu đạt hơn 3.200 tỷ đồng.
Thái Hòa cũng là DN duy nhất tại Việt Nam hoạt động theo mô hình khép kín, từ canh tác, thu hoạch, chế biến, dịch vụ đến xuất khẩu cà phê. Vì thế, nhiều người đã không tin THV lại có ngày rơi vào tình trạng bế tắc như hiện nay.
Theo một chuyên gia có tiếng trong lĩnh vực, lý do của những đổ vỡ ở THV là vì THV đã đầu tư quá nhiều và dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư. Thực tế, THV đã theo đuổi chiến lược đầu tư mở rộng và cho xây dựng hàng loạt các nhà máy, kho bãi trải dài từ Bắc vào Nam, sang cả Lào. Trong 3 năm từ 2008-2010, THV đã đầu tư xây dựng 11 dự án, trong đó có những dự án hàng trăm tỷ đồng.
Những thông tin đã công bố cho thấy, THV chủ yếu vay nợ để đầu tư. Từ năm 2009, nợ ngắn hạn của THV đã luôn ở mức hàng ngàn tỷ đồng. Nhưng trước năm 2010, chuyện nợ nần của THV chưa được đặt ra vì Công ty được hưởng những mức lãi vay ưu đãi. Từ sau khi chính sách tiền tệ siết chặt, lãi vay trở thành gánh nặng cho THV.
Trong khi đó, hoạt động đầu tư lại chưa sinh lợi, còn kinh doanh của THV hầu như không tạo ra dòng tiền dương. Công ty đành dùng vốn vay để thực hiện những dự án dang dở. THV lún sâu vào nợ nần và đối diện với nguy cơ ngừng hoạt động vì những tham vọng bành trướng vượt ngoài năng lực.
Trong khi đó, theo một số người hoạt động trong lĩnh vực cà phê, xuất khẩu cà phê chịu nhiều rủi ro về giá, tỷ giá, thị trường... nên các tính toán của DN càng dễ “trật”.
Chủ nợ tới cửa kho
Công ty CP Cà phê An Giang (AGC), Trường Ngân, INEXIM Đăk Lăk... có nguy cơ nối gót khó khăn của các doanh nghiệp ngành thủy sản không thoát khỏi ách tắc nợ nần.
Không riêng THV mà Công ty CP Cà phê An Giang (AGC) đã rơi vào thảm kịch khi lỗ liên tiếp, âm vốn chủ sở hữu, cổ phiếu bị hủy niêm yết. AGC là công ty do Thái Hòa nắm hơn 52% vốn nên mỗi bước đi của AGC trên thực tế có sự chi phối của lãnh đạo THV. Vì thế, theo nhiều công ty chứng khoán nhận định, nếu THV nối gót AGC thì đó cũng là điều dễ hiểu.
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh (BDI), thay vì các cơ sở, DN nhỏ, kể từ năm 2012 đã xuất hiện tình trạng DN có quy mô vừa và lớn lâm vào tình trạng đổ vỡ. Đây thực tế là một cảnh báo. Dễ thấy nhất là trong ngành thủy sản, một trong hai nhóm ngành chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao của Việt Nam (cùng với nhóm hàng nông sản).
- Theo Hiệp hội Cà phê – Cacao Việt Nam (Vicofa), Việt Nam có hơn 150 DN xuất khẩu cà phê. 
- Cùng với Indonesia, Việt Nam là nước có sản lượng cà phê robusta cao nhất thế giới. Khoảng 90% diện tích cà phê của Việt Nam là ở Tây Nguyên. 
- Tính đến 13/5/2013, tồn kho cà phê của Việt Nam trên sàn Liffe NYSE (London) là 127.270 tấn (trước đó một tuần, con số này là 126.100 tấn).
Năm 2012, hàng loạt đại gia “ngã ngựa” như: Công ty CP Thủy sản Bình An, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thiên Mã, Công ty CP Thủy sản Đông Nam... đều lâm vào cảnh mất cân đối giữa tổng tài sản với các khoản nợ phải trả.
Ngành cà phê cũng nếm trải vị đắng, thậm chí còn sớm hơn thủy sản. Trong đó, phải kế đến 24 DN (nhỏ) ở Tây Nguyên phải đóng cửa do vỡ nợ. Đó là chưa kể đến các DN lớn như: Vinacafe Đà Lạt (thuộc VinaCafe Việt Nam) cũng lâm vào cảnh nợ nần, thua lỗ.
Ngay cả DN tham gia thị trường cà phê kỳ hạn đầu tiên của Việt Nam là Công ty CP Đầu tư - Xuất nhập khẩu Đăk Lăk (INEXIM Đăk Lăk) cũng không khấm khá dù không ít những thống kê cho thấy, kể từ niên vụ 2007 - 2008 đến nay, INEXIM Đăk Lăk luôn nằm trong Top 20 nhà xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam.
Theo đó, kể từ năm 2007, khi tiến hành cổ phần hóa, INEXIM Đăk Lăk hiếm khi đạt doanh thu, lợi nhuận cao. Theo thông tin đã công bố (phục vụ cho việc bán đấu giá 16,5 triệu cổ phần của SCIC - tương đương 23,57% vốn điều lệ tại INEXIM Đăk Lăk vào tháng 4/2011 trên sàn HNX) cho thấy, ngay tại thời điểm 31/12/2010, trong khi tổng tài sản DN đạt 369 tỷ đồng thì nợ phải trả của Công ty là 365 tỷ (chiếm 99% tổng tài sản), chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn.
Thêm nữa, vốn chủ sở hữu năm 2010 của DN lại âm 92,51% so với 2009. Ngoài ra, xét về lợi nhuận, sau khi cổ phần hóa được một năm, INEXIM Đăk Lăk không có đồng lợi nhuận nào, riêng năm 2009, Công ty kiếm được lãi 0,85 tỷ đồng (số tiền này được sử dụng để bù lỗ) và đến năm 2010, Công ty tiếp tục lỗ trên 44 tỷ đồng. Đồng thời, tính đến tháng 4/2011, DN này lỗ lũy kế trên 80,5 tỷ đồng.
Song, điều đáng nói là giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam từ năm 2000 đến tháng 6/2010 đều tăng, mạnh nhất là năm 2008 với 2 tỷ USD. Như vậy, việc lỗ của các DN xuất khẩu cà phê “đầu đàn” là do đâu?
Với INEXIM Đăk Lăk, nguyên nhân được xác định là chi phí lãi vay, biến động tỷ giá nhưng nặng nề là Công ty đã vấp phải các khoản lỗ khi đầu tư vào công ty liên doanh - liên kết để triển khai các dự án bất động sản (căn hộ, cao ốc văn phòng...).
Được biết, ngoài việc kinh doanh, thu mua, sản xuất và xuất khẩu cà phê, INEXIM Đăk Lăk còn đầu tư vào nhiều ngành nghề khác như: nước uống đóng chai, phân bón, vật liệu xây dựng...
Gầy đây nhất, vào ngày 6/6/2013, việc 7 ngân hàng đến kho của Công ty TNHH Trường Ngân để giải quyết các khoản nợ mà công ty này vay, một lần nữa cảnh báo về tình hình hoạt động của các DN xuất khẩu cà phê Việt Nam. Theo những thông tin được đăng tải, Trường Ngân đang gánh khoản nợ hơn 600 tỷ đồng.
Theo ông Nguyễn Xuân Bình, Giám đốc Công ty Trường Ngân, khoản nợ này nên được nhìn nhận từ 3 - 4 năm về trước, khi đó, Công ty phải vay với lãi suất 20%, thậm chí có lúc lên đến 24%. Áp lực về lãi vay khiến DN dần mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, theo một cán bộ phụ trách tín dụng cho khối DN của ngân hàng trên địa bàn TP.HCM, hầu hết các hợp đồng vay vốn của Trường Ngân, hay nói rộng hơn là một số DN xuất khẩu cà phê đều là hợp đồng vay ngắn hạn (9 tháng đổ lại) nên chấp nhận mức lãi suất cao (thường là trước thời điểm 7/2012).
Hơn nữa, hiện nay, hầu như các ngân hàng đều không cho DN xuất khẩu cà phê vay với tài sản thế chấp là hàng tồn kho. Do đó, việc tiếp cận nguồn vốn để phát triển kinh doanh của DN càng thêm khó khăn.
Song, cũng theo cán bộ ngân hàng này, nếu DN chỉ đơn thuần đi theo hàng xuất - nhập thì không có chuyện lỗ, vấn đề còn lại là có hay không chuyện đầu tư tràn lan, không hiệu quả và tham gia chốt cà phê tương lai (hay còn gọi là thị trường cà phê kỳ hạn - Future market) trên sàn ngoại thì khó thoát khỏi nợ nần, thua lỗ. Được biết, ngoài Trường Ngân, vẫn còn một số DN trong Top 20 cũng đang trong tình trạng khó khăn về tài chính.
Không ít DN “than trời” vì lãi suất mà các DN xuất khẩu cà phê Việt Nam đang phải chịu cao gấp 7 - 8 lần so với các DN ngoại. Điều này làm giảm năng lực cạnh tranh của DN nội ngay trên sân nhà trong vấn đề thu mua cà phê nguyên liệu.
Song, theo bà Nguyễn Phi Vân, tư vấn cho Gloria Jeans Coffee vùng châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam tuy đứng thứ hai (sau Brazil) về xuất khẩu cà phê nhưng chủ yếu là robusta (sử dụng chủ yếu trong chế biến cà phê hòa tan), trong khi đó, vài năm trở lại đây, tỷ trọng sử dụng cà phê abrabica đang gia tăng và giá ít biến động nên hầu hết các quốc gia châu Phi đều có sự chuyển đổi, giảm diện tích robusta.
Đây là điều không chỉ các DN thu mua, kinh doanh, xuất khẩu cà phê phải cẩn trọng mà cả về chiến lược quy hoạch của ngành công nghiệp cà phê Việt Nam.