Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Cùng khám phá việc làm của VietJetAir đánh tập hậu

Chiến lược tham gia liên doanh ở Thái Lan để khai thác thị trường nước ngoài trước khi mở rộng mạng bay ra khu vực, trong đó có Việt Nam được giới trong ngành ví như chiêu đánh tập hậu từ ngoài vào của VietJetAir. Trước đây, hãng này từng thất bại với chiến lược đánh từ trong ra ngoài thông qua liên doanh với AirAsia.
Những ngày này, sân bay quốc tế Suvarnabhumi ở Bangkok tràn ngập các chuyến bay từ khắp nơi trên thế giới đưa du khách đến Thái Lan. Năm nay, ngành du lịch nước này đặt tham vọng đón gần 25 triệu du khách so với chỉ khoảng 6,5 triệu của Việt Nam. Ngành hàng không sẽ được hưởng lợi lớn. Đây cũng chính là lý do VietJetAir bắt tay với Kan Air của Thái.
VietJetAir vẫn đang trong quá trình củng cố thị trường nội địa
Đánh từ ngoài vào
Hôm 30/5, nhật báo Bangkok Post đưa tin hãng hàng không giá rẻ VietJetAir đang trong quá trình đàm phán để lập hãng bay liên doanh với Kan Air của Thái Lan. Mục tiêu của VietJetAir là khai thác mạng bay nội địa ngay tại thị trường hiện có lượng du khách dẫn đầu khu vực Đông Nam Á.
Lãnh đạo của VietJetAir đến nay vẫn chưa tiết lộ gì về kế hoạch này. Tuy nhiên, tờ Bangkok Post tiết lộ, nếu mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch thì liên doanh này sẽ chính thức cất cánh thương mại từ tháng 1/2014 với 2 máy bay A320 bằng các đường bay nội địa tại Thái Lan trước khi tiến ra khu vực.
Trả lời phỏng vấn của Bangkok Post, ông Somphong Sooksanguan, Chủ tịch Kan Air, cho biết hãng liên doanh giá rẻ này dự kiến sẽ mang tên Thai VietJetAir. Kan Air sẽ sở hữu 51% vốn liên doanh, VietJetAir nắm 49%, nhưng vốn đầu tư ban đầu cho Hãng vẫn đang thương thảo.
Kế hoạch lập liên doanh với Kan Air cho thấy, VietJetAir sẽ tiếp tục theo đuổi tham vọng của mình là trở thành hãng giá rẻ đầu tiên của Việt Nam khai thác mạng bay nội địa lẫn quốc tế thông qua hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước.
Cần nhắc lại, kế hoạch liên doanh này đã một lần thất bại vào năm 2011 khi AirAsia quyết định buông VietJetAir sau khi không thể chốt việc mua 30% cổ phần của hãng nội địa này vì nhiều lý do.
VietJetAir có chuyến bay thương mại đầu tiên TP.HCM - Hà Nội ngày 25/12/2011. Kể từ đó, Hãng đã có quá trình phát triển mang tính đại nhảy vọt. Tuần qua, VietJetAir đã tăng thêm 2 chiếc A320, nâng đội bay của Hãng lên 8 chiếc.
Từ ngày 1/6, hãng khai thác chuyến bay hằng ngày Hà Nội - Bangkok sau khi mở đường bay TP.HCM - Bangkok từ ngày 10/2.
Theo ông Dương Trí Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Jetstar Pacific, những nỗ lực của VietJetAir về phát triển mạng bay cùng đội máy bay như hiện nay chỉ sau 1,5 năm hoạt động là đáng ghi nhận (hãng có 8 đường bay nội địa và 2 đường bay quốc tế). Trong khi đó, Jetstar Pacific hiện có đội bay chỉ với 5 chiếc A320 sau khi tái cơ cấu và vẫn chưa thể bay quốc tế với tiềm lực tài chính như hiện nay.
Vốn ở đâu ra?
Ngay sau khi thông tin về liên doanh hàng không giá rẻ Thai VietJetAir được công bố trên tờ Bangkok Post, một cựu lãnh đạo của Indochina Airlines (không muốn nêu tên) nhận xét: “VietJetAir đang chơi trò đi trên dây”.
Theo ông, trước tiên, VietJetAir cần phải đứng vững trên đôi chân của mình ngay tại thị trường nội địa. Hiện VietJetAir vẫn đang trong quá trình củng cố thị trường và thời gian có thể kéo dài trên 3 năm để Hãng có thể tiến tới điểm hòa vốn cho mảng nội địa.
Tuy nhiên, đây là vấn đề nan giải vì chi phí hoạt động hiện nay là khá lớn. “Chỉ riêng giá thuê một chiếc A320 có thể lên tới hơn 300.000 USD/tháng cùng với các chi phí khác. Chưa biết, VietJetAir có thể gồng đến bao giờ”, ông Lê Song Lai, nguyên Tổng Giám đốc Jetstar Pacific, nói.
Trong khi đó, đối tác liên doanh của VietJetAir tại Thái Lan - Kan Air chỉ là hãng giá rẻ khá non trẻ (ra đời năm 2010, vốn khoảng 140 tỉ đồng) với đội bay là chiếc Cessna (12-14 ghế) và Beechcraft (6 ghế), khai thác 5 đường bay nội địa.
Như vậy, để liên doanh Thai VietJetAir có thể cất cánh vào tháng 1/2014 như dự kiến, cả 2 bên còn quá nhiều việc phải làm. Tất nhiên, vốn đầu tư ban đầu là vấn đề quan trọng và phải có ít nhất từ 5-10 triệu USD trở lên.
Chiến lược tham gia liên doanh ở Thái Lan để khai thác thị trường nước ngoài trước khi mở rộng mạng bay ra khu vực, trong đó có Việt Nam được giới trong ngành ví như chiêu đánh tập hậu từ ngoài vào của VietJetAir. Trước đây, hãng này từng thất bại với chiến lược đánh từ trong ra ngoài thông qua liên doanh với AirAsia.
VietJetAir khi đó định lập liên doanh với AirAsia theo mô hình hàng không chi phí thấp tại Việt Nam, khai thác cả tuyến trong nước và quốc tế. Tuy nhiên việc hợp tác không thành sau khi AirAsia rút lui. Trớ trêu là, giờ AirAsia sẽ trở thành đối thủ của VietJetAir, bởi họ đã có các chuyến bay nối Bangkok với Hà Nội và TP.HCM.

Đi tìm đáp án cho câu hỏi: Google vào cuộc, DN quảng cáo Việt sẽ ra sao?

Với việc ký kết với một loạt các đơn vị sản xuất nội dung (Publisher) lớn, cùng với những ưu điểm vượt trội về mặt công nghệ như khả năng hiển thị quảng cáo theo ngữ cảnh (Contextual Targeting) bao gồm khả năng hiển thị quảng cáo theo từ khóa mà nhà quảng cáo chọn lựa (Keyword contextual targeting), khả năng hiển thị quảng cáo theo chủ đề (Topic Targeting), nhóm ngành website và khả năng hiển thị quảng cáo theo website tùy chọn (Placement Targeting).
Sự ra mắt chính thức tại thị trường Việt Nam của mạng quảng cáo hiển thị Google vừa qua, khiến cho miếng bánh thị phần của các mạng quảng cáo Việt có nguy cơ bị chia nhỏ hơn.
Xu hướng ra đời của các mạng quảng cáo Việt

Trước khi mảng quảng cáo của Google đặt chân vào thị trường, tại Việt Nam mạng quảng cáo hiển thị (Advertising Adnetwork) vẫn thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các nhà quảng cáo, các đơn vị sản xuất nội dung (Publisher), và các đơn vị khai thác quảng cáo.

Với cơ chế “tích tiểu thành đại”, tập trung hàng nghìn website lớn nhỏ, khiến cho các mạng quảng cáo có sức mạnh hàng trăm triệu lượt hiển thị quảng cáo, với hàng triệu tới hàng chục triệu độc giả, ngang ngửa với sức mạnh của những tờ báo lớn hàng đầu như VnExpress, Dantri,...

Sở hữu phương thức trả tiền quảng cáo theo hiệu quả (theo click, hoặc theo lượt hiển thị), công nghệ quảng cáo trúng đích; khả năng chủ động trong việc tạo, quản lý quảng cáo nên các mạng quảng cáo hiện nay đang “ăn nên làm ra”, thu hút sự chú ý của nhiều nhà quảng cáo Việt.

Khả năng nhắm trúng mục tiêu chính là ưu điểm của các mạng quảng cáo

Bằng cách mua các vị trí ở những website nhỏ với giá rẻ sau đó bán giá cao hơn cho người mua quảng cáo, thì rõ ràng thị trường mạng quảng cáo là một miếng bánh hấp dẫn, lợi nhuận cao, cho các đơn vị khai thác quảng cáo.

Chính vì vậy, hàng loạt mạng quảng cáo ra đời trong khoảng vài năm gần đây, khiến cho thị trường truyền thông internet phân hóa rõ rệt hơn thành hai nhóm độc lập: Một nhóm gồm các đơn vị sản xuất nội dung (hay còn gọi là publisher) và một nhóm các đơn vị khai thác quảng cáo.

Sự góp mặt của “ông lớn” Google

Vào tháng 5 vừa qua, tại Hồ Chí Minh, Google đã chính thức giới thiệu Mạng hiển thị Google tại Việt Nam (Google Display Adnetwork) cho phép các website tiếng việt gia nhập mạng quảng cáo này.
Với việc ký kết với một loạt các đơn vị sản xuất nội dung (Publisher) lớn, cùng với những ưu điểm vượt trội về mặt công nghệ như khả năng hiển thị quảng cáo theo ngữ cảnh (Contextual Targeting) bao gồm khả năng hiển thị quảng cáo theo từ khóa mà nhà quảng cáo chọn lựa (Keyword contextual targeting), khả năng hiển thị quảng cáo theo chủ đề (Topic Targeting), nhóm ngành website và khả năng hiển thị quảng cáo theo website tùy chọn (Placement Targeting).

Ngoài ra còn khả năng nhắm trúng mục tiêu theo hành vi người dùng (Audience Targeting) như khả năng hiển thị quảng cáo theo hành vi, sở thích (Interest Category Marketing), khả năng hiển thị quảng cáo theo nhân khẩu học (Demorgraphic), khả năng “đeo bám” người dùng (Retargeting), và công nghệ khách hàng tương tự (Similar users) thì mạng quảng cáo hiển thị Google thực sự mang lại cho nhà quảng cáo nhiều lựa chọn hấp dẫn hơn, để họ tối ưu hóa hiệu quả quảng cáo của mình.

Với thương hiệu ông lớn hàng đầu trên thế giới, những uy tín về mặt công nghệ thì chắc chắn mạng hiển thị Google sẽ sớm được các nhà quảng cáo tin tưởng chọn lựa, và bỏ tiền túi.

Miếng bánh thị phần bị chia nhỏ

Điểm lại những thông tin đã đưa ra ở trên, chúng ta thấy miếng bánh thị phần mạng quảng cáo Việt đầy mầu mỡ đang bị xâu xé quyết liệt. Không chỉ vì sự ra đời của hàng loạt mảng quảng cáo trong vài năm gần đây.
Tiêu biểu, Admarket của Admicro-Vccorp, Eclick của FPT, Trueclick của VNG, hay các mạng nhỏ hơn như Ambient của Ecom JSC, Lava Network và mới đây là Adsnet của Vivas-VNPT, cùng một loạt các mạng hiển thị nước ngoài mới gia nhập thị trường Việt Nam.

Mà còn do sự gia nhập của ông lớn thế giới Google vừa qua, khiến cho thị phần quảng cáo của các mạng quảng cáo Việt đã nhỏ, nay còn có nguy cơ nhỏ hơn.
Theo dự đoán của các chuyên gia, nếu như Google đạt được mục tiêu xâm nhập thị trường quảng cáo Việt và chiếm lĩnh được phần lớn thị phần quảng cáo hiển thị trực tuyến như tại các nước khác trên thế giới, thì các mạng quảng cáo trong nước sẽ buộc phải chia nhau miếng bánh nhỏ thị phần quảng cáo còn lại.

Vậy, có lẽ, mối lo ngại lớn của những người đang kinh doanh các mạng quảng cáo không phải là số lượng các mạng quảng cáo nhỏ lẻ "mọc như nấm sau mưa" thời gian gần đây mà đó chính là sự xuất hiện mạng hiển thị Google tại Việt Nam - một sự xuất hiện “đáng gờm” dẫn đến nguy cơ giảm lớn thị phần của các mạng quảng cáo Việt.

Chia sẻ với bạn câu chuyện xuất khẩu ở Bình Dương tăng nhờ phân khúc giá rẻ

Mặt hàng dệt may của Bình Dương phát triển là nhờ quần, áo bình dân xuất khẩu. Tuy nhiên hiện nay thách thức cho các doanh nghiệp dệt may cũng không ít, nhất là do các ngân hàng chỉ nhắm đến các doanh nghiệp có đơn hàng mới “rót vốn”. Do vậy, ngành dệt may còn bị động và chịu hàng loạt thách thức như lệ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, nặng vốn, nặng nhân công…Vì quá lệ thuộc về nguồn nguyên liệu phụ trợ, các đơn hàng chủ yếu gia công nên các doanh nghiệp đạt giá trị thặng dư xuất khẩu chỉ ở mức “lấy công làm lãi.”
Nhờ tập trung vào thị phần có phân khúc giá rẻ mà nhiều doanh nghiệp vốn đầu tư trong nước của tỉnh Bình Dương có được nhiều đơn hàng xuất khẩu trong năm 2013.
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như sản phẩm gỗ, dệt may, giày da, hàng thủ công mỹ nghệ... đạt kim ngạch tăng khá nhờ áp dụng phân khúc thị trường đã tạo “cú hích” đi lên của ngành xuất khẩu Bình Dương, cho dù nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Đây là nhận định chung của 156 doanh nghiệp thuộc Hội xuất nhập khẩu tỉnh Bình Dương.
Xuất khẩu “khỏe”
Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương, kim ngạch xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2013 của tỉnh đạt xấp xỉ 5 tỉ USD, tăng hơn 16% so với cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt gần 820 triệu USD (tăng 5,2% so với cùng kỳ), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hơn 4 tỉ USD (tăng 18,6%). Kim ngạch nhập khẩu của tỉnh khoảng hơn 4 tỉ USD, tăng 17,8%. Như vậy, cán cân thương mại xuất nhập khẩu của Bình Dương đã được duy trì đúng định hướng với tỷ lệ xuất siêu đạt trên 812 triệu USD trong 5 tháng qua.
Điểm mới của xuất khẩu năm nay là các mặt hàng chủ lực truyền thống có thế mạnh của Bình Dương tiếp tục tăng trưởng nhờ khâu đột phá về phân khúc thị trường giá rẻ.
Theo ông Phan Văn Xô - Chủ tịch Hội xuất nhập khẩu Bình Dương, hiện nay trong Hội có 156 doanh nghiệp xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn ở Bình Dương đã ký hợp đồng sản xuất các đơn hàng cho đối tác thực hiện cả năm 2013. Một số mặt hàng có đơn hàng lớn nhất là dệt may và giày da đang phát triển ở mức cao.
Điểm mạnh của ngành xuất khẩu năm nay chủ yếu tập trung vào sản xuất các mặt hàng bình dân giá rẻ nhưng đảm bảo mẫu mã, chất lượng. Đây là xu hướng đang được quốc tế quan tâm để cạnh tranh và tìm giải pháp đầu ra cho thị trường toàn cầu. Vì thế, nhờ tập trung vào thị phần có phân khúc giá rẻ này mà nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước của Bình Dương tiếp cận được nhiều đơn hàng hơn trong năm 2013 cho dù khó khăn về suy thoái kinh tế.
Ông Xô cho biết thêm, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch lớn đang tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2013 như sản phẩm gỗ, dệt may, giày da, điện tử tăng rất khá, là một tín hiệu rất khả quan tiếp thêm “cú hích” tạo đà cho các ngành hàng còn phát triển kéo khá dài trong 10-15 năm tới.
Hầu hết các doanh nghiệp đang kinh doanh các mặt hàng này đều có đủ đơn hàng đáp ứng nhu cầu sản xuất ít nhất là hết quý 3, có doanh nghiệp có hàng xuất khẩu đủ cả năm. Hiện nay, mặt hàng “dễ ăn” nhất trong xuất khẩu là hai ngành hàng thế mạnh của Bình Dương, gồm dệt may và da giày luôn có đơn hàng xuất khẩu đủ cả năm 2013 vì đáp ứng đúng thị phần xuất khẩu, giá rẻ hơn, mẫu mã tốt. Vấn đề là các doanh nghiệp phải biết phát huy nội lực để tăng lợi nhuận bằng cách giảm các chi phí hoạt động, làm chủ về công nghệ, thiết bị hiện đại và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý hơn.
Mặc dù suy thoái kinh tế ảnh hưởng lớn đến “túi tiền” của người tiêu dùng nhưng ngành da giày được xem là 1 trong 15 mặt hàng chủ lực của tỉnh Bình Dương đang “chống chọi” tốt với thị trường. Điển hình tại Tập đoàn Thái Bình Shoes với mục tiêu đề ra năm 2013 là từ 14-16 triệu đôi giày.
Trong năm 5 tháng qua, Tập đoàn đã sản xuất và xuất khẩu hơn 5 triệu đôi giày, tạo việc làm cho gần 17.000 lao động, mức thu nhập bình quân từ 4,5-5 triệu đồng/tháng. Đơn hàng đã và đang nhận sẽ đảm bảo cho kế hoạch cả năm 2013 là rất khả thi.
Còn nhiều “rảo cản”
Có thể nói, các doanh nghiệp nằm trong Hội xuất nhập khẩu Bình Dương có những đột phá về thế mạnh. Có những mặt hàng đang “hot” đầu ra được nhiều doang nghiệp Bình Dương đầu tư đi đúng hướng. Điển hình như các doanh nghiệp ngành giày năm nay đã chủ động về thiết kế, mẫu mã, làm chủ được công nghệ cũng như đầu tư vào cả phần cứng và phần mềm trong quá trình sản xuất và quản trị đã cải thiện để ứng phó những rủi ro.
Đánh giá về vấn đề này, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Bình Dương Lê Hồng Phoa cho hay: Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu đạt xấp xỉ 600 triệu USD, tăng 7,3% so với năm trước. Bình Dương được xem là tỉnh có tốc độ phát triển ngành dệt may hàng đầu của Việt Nam hiện nay. Đóng góp của ngành dệt may chiếm hơn 10% các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh.
Mặt hàng dệt may của Bình Dương phát triển là nhờ quần, áo bình dân xuất khẩu. Tuy nhiên hiện nay thách thức cho các doanh nghiệp dệt may cũng không ít, nhất là do các ngân hàng chỉ nhắm đến các doanh nghiệp có đơn hàng mới “rót vốn”. Do vậy, ngành dệt may còn bị động và chịu hàng loạt thách thức như lệ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu, nặng vốn, nặng nhân công…Vì quá lệ thuộc về nguồn nguyên liệu phụ trợ, các đơn hàng chủ yếu gia công nên các doanh nghiệp đạt giá trị thặng dư xuất khẩu chỉ ở mức “lấy công làm lãi.”
Theo Chủ tịch Hội xuất khẩu Bình Dương Phan Văn Xô: Còn rất nhiều rào cản mà doanh nghiệp đang ái ngại nhất trong xuất khẩu là một phần do tác động xấu của nền kinh tế. Tuy nhiên nhìn khách quan hơn còn nhiều “rảo cản” sau khi tham gia WTO, nhất là về “rào cản” kỹ thuật như: chống bán phá giá, truy xuất nguồn gốc xuất xứ.
Các nguyên nhân tác động thì rất nhiều, trong đó có 2 nguyên nhân chính: Một là, hành lang pháp lý chưa chặt chẽ và chưa theo kịp đời sống thực tiễn. Hai là, doanh nghiệp chưa đủ lớn về quy mô và chưa đủ mạnh về tài chính, chưa làm chủ về công nghệ và thích nghi nhanh với sự đổi thay của thị trường, chưa chú trọng về nhân quyền, môi trường và việc lưu giữ hồ sơ giấy tờ để phục vụ điều tra khi xảy ra các vụ kiện nhằm hạn chế sản lượng xuất khẩu.
Bằng chứng thấy rõ, giá trị xuất khẩu giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chênh lệch quá lớn. Theo ông Xô, “sân chơi này” bị chênh lệch bởi các doanh nghiệp FDI rộng lớn về quy mô, khỏe về nguồn tài chính, làm chủ công nghệ và khách hàng. Để cân bằng thì các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư về hạ tầng cơ sở, Nhà nước tạo thuân lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Bình Dương đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2013 đạt trên 20%, trị giá khoảng 15-16 tỉ USD. Những ngành hàng xuất khẩu có tín hiệu lạc quan từ nay đến cuối năm là sản phẩm gỗ, dệt may, giày dép, mủ cao su và hàng thủ công mỹ nghệ. Đây là những ngành hàng phần lớn do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư, sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu mang lại kim ngạch lớn cho Bình Dương, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.

Chia sẻ cùng bạn về chiến sự khốc liệt… bột giặt và bài học cạnh tranh

Không giống như các nhãn hiệu nội địa Lix, Vì Dân, Net luôn chọn phân khúc giá thấp để “trú ẩn”, tránh đối đầu trực diện với “người khổng lồ” Unilever, thì Aba lại làm bất ngờ tất cả khi định giá gần tương đương với Omo (nằm ở phân khúc giá top đầu thị trường, cũng là nhãn hàng có thị phần cao nhất).
Sau cuộc chiến giành thị phần khốc liệt giữa Omo, Tide vào những năm đầu thập niên 2000 thị trường bột giặt Việt Nam khá “yên bình”, thì nay bỗng nổi sóng đùng đùng với ba “đấu thủ” đang ở thế chân vạc: Omo, Ariel và Aba.
Với doanh số ước tính vào khoảng 600 – 650 triệu đôla một năm, tốc độ tăng trưởng bình quân trên dưới 10%, thị trường bột giặt Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn.
Mấy năm qua, Unilever chiếm thị phần cao nhất với các nhãn hiệu Omo, Viso, Surf (ba nhãn hiệu này giới chuyên môn đánh giá, chiếm hơn một nửa thị trường cả nước), phần còn lại thuộc về P&G với Tide, cùng các nhãn hàng nội địa khác ở phân khúc giá bình dân như Lix, Vì Dân, Net…
Bỗng dưng sôi động
Kể từ năm 2012, thị trường chứng kiến sự xuất hiện của nhãn hiệu Aba của công ty Đại Việt Hương. Aba tạo ra cú sốc thú vị khiến toàn bộ ngành hàng bột giặt sôi động là vì cách định giá (cũng có nghĩa cách chọn chiến lược cạnh tranh).
Không giống như các nhãn hiệu nội địa Lix, Vì Dân, Net luôn chọn phân khúc giá thấp để “trú ẩn”, tránh đối đầu trực diện với “người khổng lồ” Unilever, thì Aba lại làm bất ngờ tất cả khi định giá gần tương đương với Omo (nằm ở phân khúc giá top đầu thị trường, cũng là nhãn hàng có thị phần cao nhất).
Chọn thị trường “dễ thay đổi” là đồng bằng sông Cửu Long làm đại bản doanh tung hàng, Aba đã có sự khởi đầu khá ấn tượng, từng bước chiếm được cảm tình người tiêu dùng với bao bì, chất lượng sản phẩm khuyến mãi… khá tốt.
Tại nhiều khu vực đã có lúc Aba cạnh tranh “sòng phẳng” với Omo, Viso, Surf, vượt qua nhiều nhãn hiệu nội địa khác chỉ sau hơn một năm góp mặt.
P&G cũng không đứng ngoài cuộc, sau gần hai năm tung nước giặt nhãn hiệu Ariel khá thành công, đã thừa thắng xông lên, tung tiếp bột giặt Ariel, định vị cạnh tranh trực tiếp với Omo.
Có lẽ do rút kinh nghiệm thất bại từ Tide trước đây, vốn dĩ bị định vị ở phân khúc thấp hơn (được xem là sánh ngang với Viso của Unilever), lần tung hàng này, P&G đã chuẩn bị hết sức công phu cho Ariel “bằng vai phải lứa” với Omo.
Kể từ đầu năm 2013, thị trường hình thành nên thế chân vạc gồm Unilever (với Omo, Viso, Surf), P&G (với Ariel, Tide), Đại Việt Hương (với Aba).
Khốc liệt cuộc chiến trade marketing
Với vai trò là người đi “giành giật” thị phần của Omo, Aba và Ariel đã có những cách tiếp cận thị trường khác nhau. Độc đáo nhất phải nói đến Aba với chiến lược giá ngang ngửa Omo.
Theo dõi cuộc chiến suốt mấy tháng gần đây, chuyên gia của trung tâm LSA thấy Đại Việt Hương tuy “liều lĩnh” nhưng đầy tự tin và khôn ngoan.
Việc định giá rất sát Omo đã mang lại cho Aba một mức lợi nhuận biên lớn. Tính toán kỹ, Aba dùng chính phần lợi nhuận cao này để tái đầu tư ra thị trường, gia tăng sức mạnh cạnh tranh của hệ thống phân phối.
Aba đã thực hiện hàng loạt chương trình trade marketing khủng để “bơm” hàng ra thị trường một cách ấn tượng, gây bất ngờ cho các đối thủ cạnh tranh.
 Đã có những lúc để chiếm không gian điểm bán lẻ, Aba áp dụng tỷ lệ chiết khấu trên 10%, thậm chí có lúc lên đến gần 20%, điều hầu như chưa bao giờ xảy ra trên thị trường bột giặt từ trước đến nay.
Không chỉ vậy, Đại Việt Hương đã tổ chức lại hệ thống bán lẻ, tuyển thêm nhân viên, thay đổi cách thức bán hàng để phục vụ cho mục tiêu cạnh tranh đường dài.
Bằng cách tiếp cận mang tính hệ thống, được thiết kế bài bản, phối hợp nhiều phương pháp đã giúp cho Aba trở thành nhãn hiệu bột giặt nội địa thành công nhất năm 2012 – 2013.
Nói đến Ariel, họ không “liều lĩnh” như Aba mà theo cách một chuyên gia marketing có truyền thống. P&G đã tung ra một chương trình marketing lớn nhất trong nhiều năm của họ tại Việt Nam để hỗ trợ cho Ariel.
Thể hiện cụ thể là đầu tư từ khâu thiết kế thông điệp quảng cáo, chi tiền khủng cho các phương tiện truyền thông, mời các ngôi sao giải trí làm đại sứ thương hiệu… đến việc tổ chức các sự kiện cho người tiêu dùng.
Không né tránh, họ đánh thẳng vào lãnh địa tưởng “bất khả xâm phạm” của Omo. Chiến sự trên thị trường nửa đầu năm nay cho thấy, Aba và Ariel đã và đang chuẩn bị cho cuộc chiến dài hơi.
Unilever ứng biến ra sao? Unilever đang tiếp tục đẩy các chiến dịch quảng cáo rầm rộ cho người tiêu dùng và qua thăm dò người bán lẻ, chúng tôi thấy họ đang xắn tay áo trong cuộc chiến trade marketing, có lẽ họ phải làm cho được hai việc: thứ nhất, hạn chế tối đa sự có mặt của đối thủ tại các điểm bán lẻ, thứ hai luôn duy trì mức tồn kho các sản phẩm đầy đủ tại các cửa hàng bán lẻ khắp thị trường.
Bên kia, Aba, Ariel cũng như các nhãn hàng nội địa khác cũng phải nỗ lực duy trì độ bao phủ thị trường, đảm bảo hàng hoá đầy đủ tại nhiều điểm bán, bố trí đội ngũ bán hàng tốt, duy trì dịch vụ bán hàng cạnh tranh. Kiên trì, bài bản, khôn ngoan sẽ là ba từ thường xuyên họ đang “tụng niệm”.

Cùng đón xem việc Nissan đấu Honda: Giá rẻ cho Việt Nam

Ông Tomohiro Maruno, Giám đốc bán hàng mảng ôtô của Honda Việt Nam cho biết thời điểm kinh tế khó khăn là cơ hội để khai thác lượng khách hàng có mức thu nhập khá tại Việt Nam, vốn không thể tiếp cận các mẫu xe có giá trên 1 tỉ đồng. “Ngay trong ngày ra mắt, chúng tôi đã ký được hơn 200 hợp đồng mua Honda City với khách hàng trong cả nước”, ông nói.
Thật ngẫu nhiên, các mẫu xe du lịch có giá 540-600 triệu đồng (đã có VAT) đã đồng loạt ra mắt thị trường Việt Nam trong những ngày đầu tháng 6 này. Đặc biệt, cả 2 đại gia Nhật là Nissan và Honda cùng chọn ngày 11/6 để trình làng dòng xe sedan giá rẻ là Nissan Sunny và Honda City.
Honda gọi, Nissan đáp lời
Không chỉ xuất xưởng chiếc Nissan Sunny đầu tiên được lắp ráp trong nước, Tập đoàn Tan Chong (Malaysia), đơn vị nhượng quyền thương hiệu Nissan tại Việt Nam, còn khánh thành nhà máy lắp ráp xe Nissan có vốn đầu tư 40 triệu USD tại Khu Công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng. Đây cũng là nhà máy đầu tiên của Tan Chong đặt ở nước ngoài sau 2 nhà máy tại Malaysia.
Nissan chỉ chuyển giao công nghệ nhưng không góp vốn vào dự án này. Vì sao Nissan quyết định bắt tay với Tan Chong thay vì một đối tác trong nước để lắp ráp xe tại Việt Nam?
Xét về mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa Nissan và Tan Chong thì đây là một quyết định có cơ sở vì đối tác Malaysia này là nhà phân phối độc quyền của Nissan trong hơn 50 năm qua tại Malaysia và Singapore. Họ hiện cũng là nhà phân phối độc quyền cho Nissan tại khu vực Đông Dương.
Tháng 11/2011, Tan Chong chính thức trở thành đối tác liên doanh trị giá 10 triệu USD của Nissan tại Việt Nam sau khi mua lại 74% vốn của Kjaer Group A/S (Đan Mạch).
Sau đó, đối tác Malaysia này tiếp tục rót thêm 40 triệu USD nữa để đầu tư nhà máy lắp ráp xe Nissan tại Đà Nẵng có năng lực sản xuất khoảng 6.500 chiếc/năm và dự kiến đạt mức công suất tối đa là 30.000 chiếc/năm sau 5 năm đi vào hoạt động.
Cùng ngày 11/6, Honda Việt Nam cũng giới thiệu dòng xe Honda City. Đến nay, Honda City đã có mặt tại 91 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và châu Âu.
Ông Masayuki Igarashi, Tổng Giám đốc Honda Việt Nam, cho hay dòng xe City được lắp ráp bằng linh kiện nhập khẩu từ Nhật, Thái Lan và một số nước khác. Mục tiêu của Honda là sẽ đạt mức tiêu thụ khoảng 1.000 xe ngay trong năm 2013.
Chưa hết, cũng trong tháng 6 này, nhà phân phối Hyundai Thành Công đã xác nhận sẽ bắt đầu nhập khẩu và phân phối mẫu xe giá rẻ Hyundai Elantra 2013 tại Việt Nam.
Phân khúc tiềm năng
Cả Nissan và Tan Chong đều quyết định chờ đến ngày 17/6 mới công bố giá bán 3 mẫu xe Nissan Sunny (1 phiên bản số tự động và 2 phiên bản số sàn). Một nguồn tin cho biết, loại số sàn sẽ có giá trên 540 triệu đồng và khoảng trên 620 triệu đồng cho số tự động (đã có VAT).
Việt Nam hiện có khoảng 18 ôtô/1.000 dân. Dự báo từ năm 2015, nhu cầu sắm ôtô bắt đầu tăng mạnh.
“Với mục tiêu lâu dài là nắm thị phần trước khi tính tới chuyện lãi, Nissan đã trợ giá 10% cho Sunny”, ông Ang Bon Beng, Giám đốc cấp cao khu vực Đông Dương của Tập đoàn Tan Chong (Malaysia), nói. Chiến lược phân phối của Nissan Sunny trước mắt sẽ tập trung vào hệ thống 12 đại lý trong cả nước.
Trong khi đó, phản hồi chung của một số khách hàng tại buổi ra mắt Nissan Sunny và Honda City cho thấy, mẫu xe Honda City có phần nhỉnh hơn về trang bị và khả năng vận hành so với Nissan Sunny.
Tuy nhiên, với giá công bố lần lượt là 540 triệu đồng và 580 triệu đồng (đã có VAT) cho phiên bản số sàn và số tự động, Honda City muốn chứng minh khả năng tranh chấp thị phần trong phân khúc giá rẻ tại Việt Nam với Nissan Sunny là khá lớn.
Theo báo cáo quý IV/2012 của Business Monitor International (Anh), số hộ gia đình Việt Nam tại 3 thành phố phát triển nhất gồm TP.HCM, Đà Nẵng và Hà Nội có mức thu nhập trung bình khoảng 1.000 USD/tháng chiếm khoảng 5% dân số địa phương. Đây chính là đối tượng khách hàng tiềm năng mà các mẫu ôtô giá rẻ đang nhắm tới.
Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam dự báo cả năm nay, sản lượng toàn thị trường sẽ đạt khoảng 103.000 xe, tăng khoảng 3% so với mức dự báo. Dự kiến, các mẫu xe giá rẻ sẽ có mức đóng góp đáng kể cho sản lượng xe tiêu thụ trong năm nay.
Ông Tomohiro Maruno, Giám đốc bán hàng mảng ôtô của Honda Việt Nam cho biết thời điểm kinh tế khó khăn là cơ hội để khai thác lượng khách hàng có mức thu nhập khá tại Việt Nam, vốn không thể tiếp cận các mẫu xe có giá trên 1 tỉ đồng. “Ngay trong ngày ra mắt, chúng tôi đã ký được hơn 200 hợp đồng mua Honda City với khách hàng trong cả nước”, ông nói.
Chỉ còn khoảng 5 năm nữa, Việt Nam phải cạnh tranh với các nước ASEAN, khi cam kết AFTA quy định mức thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc vào Việt Nam sẽ giảm xuống mức từ 0-5% vào năm 2018. Lúc đó, xe nhập khẩu nguyên chiếc sẽ có lợi thế hơn nhiều so với xe sản xuất trong nước.
Khi đặt vấn đề này với chủ đầu tư nhà máy sản xuất Nissan Sunny tại Đà Nẵng, ông Ang thuộc Tập đoàn Tan Chong khẳng định, ngoài thuế nhập khẩu, Chính phủ Việt Nam sẽ có các giải pháp hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư, góp phần tiếp tục phát triển ngành công nghiệp ôtô trong nước.
Lạc quan hơn, ông Takayuki Kimura, Chủ tịch Nissan khu vực châu Á - Thái Bình Dương, còn cho biết: “Sản lượng ôtô của Việt Nam sẽ đạt mức gấp đôi trong vòng 5 năm tới. Đó là lý do chúng tôi đã mở trung tâm R&D với hơn 2.000 kỹ sư tại Hà Nội từ năm 2010 để phục vụ mục tiêu phát triển toàn cầu của Nissan”.

Tìm hiểu sự việc so kè trên đất Myanmar

Hiện tại, hai dự án của CT Group đang rất "căng" và phải thay đổi liên tục vì các khoản chi phí thực hiện vào thời điểm này tăng rất nhanh. Đó cũng là lý do HAGL vừa phải nâng vốn đầu tư cho khu phức hợp tại Yangon từ 300 triệu USD lên 440 triệu USD, do kế hoạch ban đầu dự án sẽ thiết kế theo Singapore nhưng Chính phủ Myanmar đề nghị HAGL phải đầu tư theo tiêu chuẩn cao cấp của Mỹ nên làm thay đổi nhiều chi tiết liên quan đến kết cấu của công trình.
HAGL khởi công dự án khu phức hợp tại Yangon
Ông Trần Phước Anh, Tham tán Đại sứ quán Việt Nam tại Myanmar, cho biết, người tiêu dùng Myanmar đang có xu hướng "chê” hàng Trung Quốc, kháo nhau tìm hàng "made in Vietnam" để mua vì chất lượng, mẫu mã tốt hơn hẳn hàng Trung Quốc, giá cạnh tranh hơn hàng Thái Lan.
Với dân số khoảng 60 triệu người, ước tính, 70% hàng hóa tại Myanmar phải nhập khẩu nên đây là cơ hội tốt cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam.
Lớn đấu lớn
Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Hoàng Anh Gia Lai Group (HAGL) cho biết, ở lĩnh vực bất động sản tại Myanmar, cơn sốt mới chớm nên lợi thế sẽ rất lớn đối với những nhà đầu tư nhanh chân, nhất là khi địa ốc Myanmar sẽ nóng lên trong 5 năm tới.
Đơn cử, năm 2010, giá đất HAGL mua cho dự án phức hợp trung tâm thương mại, khách sạn 5 sao, văn phòng cho thuê tại Yangon chỉ 25 USD/m2, sau 3 năm, giá đất ở đây đã tăng gấp 5 lần.
Đồng hành với đó là tốc độ tăng trưởng của Myanmar rất nhanh. Cách đây 2 năm, Yangon không có nhiều xe, nhưng tháng 6/2013, lượng ô tô ở đây đã tăng lên chóng mặt, vì vậy chắc chắn vài năm nữa, chỗ đậu xe sẽ là nhu cầu rất lớn nên dự án khu phức hợp của HAGL tại Yangon cũng đã thay đổi thiết kế, tăng lên 2 tầng hầm đỗ xe.
Ở các hạng mục văn phòng cho thuê, khách sạn, căn hộ dịch vụ, ông Đức cũng đưa ra bài tính: Giá thuê văn phòng ở Yangon theo khảo sát của các công ty nghiên cứu thị trường đã lên tới mức 100 USD/m2/tháng, dù chỉ là văn phòng loại B, trong khi văn phòng hạng A ở Hà Nội, TP.HCM chỉ cho thuê với mức trên dưới 30 USD/m2/tháng.
Đó cũng chính là những lợi thế của HAGL vì theo đánh giá, trong 5 năm tới ở Yangon không thể có dự án nào có lợi thế cạnh tranh và vị trí tốt hơn.
Cùng so kè cơ hội với HAGL, CT Group đã cùng đối tác tại Myanmar nhanh chân thắng thầu hai dự án căn hộ văn phòng cho thuê tại Yangon.
Tuy nhiên, theo ông Trần Kim Chung, Chủ tịch HĐQT C.T Group, cạnh tranh mảng bất động sản tại thị trường này đang rất khốc liệt, không chỉ cạnh tranh với DN trong nước, mà còn phải cạnh tranh với tất cả các nhà đầu tư ở các nước.
Hiện tại, hai dự án của CT Group đang rất "căng" và phải thay đổi liên tục vì các khoản chi phí thực hiện vào thời điểm này tăng rất nhanh. Đó cũng là lý do HAGL vừa phải nâng vốn đầu tư cho khu phức hợp tại Yangon từ 300 triệu USD lên 440 triệu USD, do kế hoạch ban đầu dự án sẽ thiết kế theo Singapore nhưng Chính phủ Myanmar đề nghị HAGL phải đầu tư theo tiêu chuẩn cao cấp của Mỹ nên làm thay đổi nhiều chi tiết liên quan đến kết cấu của công trình.
Ngoài ra, dự toán chi phí vật tư, nội thất đến năm 2013 cũng bị đội lên. Trước đó, dự án phức hợp tọa lạc tại "khu đất vàng" này của HAGL cũng đã có hai DN bất động sản lớn của nước ngoài so kè đầu tư nên việc tăng vốn của HAGL không chỉ chứng minh năng lực của không thua kém một số nước lớn khác đầu tư vào Myanmar, mà sau khi hoàn thiện dự án, ông Đức cho biết sẽ treo biển Vina Tower để người Việt Nam có thể tự hào.
Cách đây không lâu, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) cũng tiết lộ sẽ cùng 17 nhà mạng và 7 tập đoàn công nghệ thông tin (CNTT) khác cạnh tranh để giành một trong hai giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông di động tại quốc gia này.
Cùng đấu thầu còn có hai hãng viễn thông lớn nhất thế giới là Vodafone (Anh) và China Mobile (Trung Quốc).
481 triệu USD
Theo số Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đã cấp phép cho 8 dự án đầu tư sang Myanmar với tổng vốn đăng ký khoảng 481 triệu USD.
Trong số những dự án đầu tư sang Myanmar, có những dự án nổi bật như dự án về dầu khí (lô M2) tại vùng biển Tây Nam của Myanmar do Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) liên kết với Eden Group Co., Ltd của Myanmar; dự án khai thác đá màu tại bang Rakhine của Công ty CP Simco Sông Đà.
Tuy nhiên, ngày 31/5, Hãng Reuters đưa tin, liên minh Vodafone (Anh) và China Mobile (Trung Quốc) đã tuyên bố rút khỏi cuộc đấu thầu giành kinh doanh tại Myanmar sau khi tính toán lợi nhuận không đủ bù chi phí đầu tư.
Mặc dù, sự rút lui của liên minh "đáng gờm" nhất mở thêm cơ hội cạnh tranh cho Viettel, nhưng trước ngày Myanmar chính thức công bố một trong hai nhà mạng được cấp phép đầu tư vào ngày 27/6, Viettel vẫn còn rất "căng thẳng".
Nhỏ "chiến" nhỏ
Không chỉ các DN lớn chịu sức ép cạnh tranh, ông Nguyễn Duy Phương, Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Thabico chuyên cung cấp dược liệu, thực phẩm tại Myanmar cho biết:
"Các tập đoàn lớn, công ty nước ngoài ở các nước châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc... khi vào thị trường mới, đều có chiến lược về giá, thậm chí bán phá giá, chấp nhận huề vốn để chiếm lĩnh thị trường trước. Nên để trụ được, chúng tôi chỉ có con đường duy nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm, dựa vào sự tương đồng văn hoá, thiện cảm lẫn nhau để cung ứng công nghệ, nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng".
Ông Võ TấnThịnh, Tổng giám đốc Công ty CP Dây cáp điện Thịnh Phát, chia sẻ:
"Myanmar hiện đang là một thị trường kém về kiểm soát chất lượng, các DN Việt Nam cũng bị các đại lý tại Myanmar ép giá với giá mua thật rẻ. Ở lĩnh vực dây cáp điện, mức độ cạnh tranh hiện nay rất căng, không chỉ so kè từng chút về giá, chất lượng với các tập đoàn quốc tế ở châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, mà chúng tôi còn phải cạnh tranh ngay cả với DN trong nước cùng đầu tư tại Myanmar".
Còn theo đại diện Công ty CP Phân bón Bình Điền, do đi sau nên để cạnh tranh được với phân bón của Thái Lan và Trung Quốc, Công ty đang hợp tác với Bộ Nông nghiệp Myanmar triển khai đến nhà vườn ở một số vùng miền của Myanmar.
Tuy nhiên, sự cạnh tranh quyết liệt của phân bón nhập lậu từ Trung Quốc cũng là một thách thức lớn. Điểm bất lợi đối với doanh nghiệp Việt Nam là không có chung đường biên giới với Myanmar, nên việc vận chuyển sẽ tốn kém và mất thời gian hơn so với các công ty của Trung Quốc.
Theo ông Phước Anh, công ty nước ngoài hiện chưa được phép kinh doanh trực tiếp tại Myanmar nên điều quan trọng nhất để kinh doanh thành công tại Myanmar là tìm được đối tác phù hợp để có những kế hoạch, bước đi tiếp cận thị trường Myanmar phù hợp, hiệu quả nhất.

Cùng tìm hiểu về canh bạc của Keppel Land

Việc xây dựng Saigon Centre giai đoạn 2 có thể xem như một bước cạnh tranh của Keppel Land với các trung tâm thương mại khác đang mọc lên ngày càng nhiều ở quận 1. Đi vào hoạt động từ năm 1996, Sài Gòn Centre có tổng diện tích mặt bằng cho thuê (cả văn phòng và khu thương mại) chỉ khoảng 16.000m2, đang tỏ ra lép vế so với các trung tâm thương mại mới mở như Vincom Center A (diện tích sàn trên 91.000m2).
Hai trăm năm trước, vị thuyền trưởng lẫy lừng người Anh Henry Keppel lần đầu đặt chân đến Singapore. Có lẽ khi tới đây, ông cũng không thể ngờ rằng, tên tuổi của mình sau này sẽ trở nên nổi tiếng không chỉ trong lĩnh vực hải quân, mà còn lan sang cả lĩnh vực kinh doanh.
Năm 1830, khi vùng biển quanh Malaysia và Singapore đầy rẫy bọn hải tặc, Henry Keppel đã được gia nhiệm vụ thống lĩnh hải quân Anh đến truy quét. Tại đây, ông đã để ý tới một khu vực có vùng nước sâu rất thích hợp cho thuyền bè neo đậu.
Tòa nhà International Centre ở trung tâm Hà Nội
Vùng đất Henry Keppel để ý tới sau này nhanh chóng phát triển trở thành một bến cảng quan trọng của Singapore: Cảng Keppel.
Tại đây, một xưởng sửa chữa tàu được thành lập từ năm 1968 đã phát triển thành một trong những tập đoàn lớn nhất Singapore, Keppel Corporation.
Đằng sau sự lớn mạnh của Keppel Corp là bóng dáng của Temasek Holdings,với 20% cổ phần tại tập đoàn này. Temasek Holdings là công cụ của Chính phủ Singapore (100% sở hữu của Bộ Tài chính), nắm giữ hàng loạt cổ phiếu của các tập đoàn lớn nhất quốc gia này như SingTel, Singapore Airlines, Singapore Power,...
Từ lĩnh vực cốt lõi là cảng biển, Keppel ngày nay đã phát triển ra 3 lĩnh vực chính: cảng biển, phát triển cơ sở hạ tầng (viễn thông, vận tải), và cuối cùng là bất động sản.
Năm 2012,doanh thu của Keppel Corp đạt 13,9 tỉ USD và lợi nhuận đạt 1,91 tỉ USD. Vốn hóa thị trường hiện đạt hơn 15 tỷ USD.

Tại Việt Nam, Keppel Corp đầu tư trên khá nhiều lĩnh vực, từ vận tải biển, logistic, hỗ trợ xây dựng dàn khoan dầu, trạm xử lý nước thải,... Tuy nhiên nổi bật nhất vẫn là mảng bất động sản với sự tham gia của Keppel Land.
Cánh tay nối dài của tập đoàn Keppel
Tương tự như các tập đoàn đa ngành khác của Singapore, sau khi phát triển thành công lĩnh vực cốt lõi, bất động sản thường là mục tiêu tiếp theo mà các tập đoàn này nhắm tới. Và Keppel Corp cũng không phải ngoại lệ.
Keppel Land, bộ phận chịu trách nhiêm phát triển mảng bất động sản của Keppel là một trong những tập đoàn bất động sản lớn nhất được niêm yết trên sàn chứng khoán Singapore. Hiện nay, vốn hóa thị trường của Keppel Land đạt 4,4 tỷ USD.
Là một trong những tập đoàn hàng đầu về bất động sản tại châu Á, chiến lược phát triển bền vững của Kepel Land tập trung vào cả 2 thị trường: Thứ nhất là thị trường cốt lõi tại Trung Quốc và Singapore. Thứ hai là những thị trường mới nổi, với hai tên tuổi được chú trọng nhất là Indonesia và Việt Nam.
Tại Việt Nam, Keppel Land nổi lên với dự án Saigon Centre đi vào hoạt động từ rất sớm (1996). Ngoài ra, tập đoàn này cũng đầu tư rất nhiều lĩnh vực bất động sản, từ căn hộ, khách sạn, khu nghỉ dưỡng cho đến trung tâm thương mại.
Có thể kể tới khá nhiều dự án nổi tiếng như: Sedona Suites Royal Park (Hà Nội); các khu dân cư cao cấp Villa Rivera, The Estella; các dự án phức hợp tại Nam Rạch Chiếc (TP.Hồ Chí Minh) và dự án thành phố ven sông Đồng Nai.
Những dự án của Keppel vào Việt Nam
Tổng tài sản của Keppel Land đạt 11,7 tỉ USD tính đến cuối tháng 3/2013. Trong đó, riêng thị trường Việt Nam, tài sản của Keppel Land chiếm 3,9%, tương đương hơn 456 triệu USD (khoảng 9.500 tỉ đồng).
So với các doanh nghiệp bất động sản trong nước thì đây là một con số vào loại lớn.
Bước đi của kẻ liều
Dù thị trường bất động sản của Việt Nam vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Keppel Land vẫn tiếp tục đẩy mạnh đầu tư với việc triển khai các dự án mới. Hiện tại, Keppel land có khoản 18 dự án với vốn đầu tư đăng ký lên tới 2 tỉ USD vào Việt Nam
Cuối năm 2011, Dự án Saigon Centre giai đoạn 2 đã được Công ty Keppel Land và các đối tác là TCTCP Đường sông Miền Nam (Sowatco) và TCT Địa ốc Sài Gòn (Resco) tiến hành, dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong năm 2015.
Tổ hợp Saigon Centre tại đường Lê Lợi, Q1, TP.HCM
Việc xây dựng Saigon Centre giai đoạn 2 có thể xem như một bước cạnh tranh của Keppel Land với các trung tâm thương mại khác đang mọc lên ngày càng nhiều ở quận 1. Đi vào hoạt động từ năm 1996, Sài Gòn Centre có tổng diện tích mặt bằng cho thuê (cả văn phòng và khu thương mại) chỉ khoảng 16.000m2, đang tỏ ra lép vế so với các trung tâm thương mại mới mở như Vincom Center A (diện tích sàn trên 91.000m2).
Saigon Centre giai đoạn 2 sẽ bổ sung thêm 90.000m2 cho khu thương mại và văn phòng. Dù chưa đi vào hoạt động nhưng dự án này đã được Takashimaya Singapore – một trong những đại gia bán lẻ thế giới cam kết thuê khoảng 15.000 mét vuông sàn bán lẻ tại 5 tầng.
Cùng với trung tâm thương mại, Keppel Land vẫn đang tìm kiếm những cơ hội khác vào thị trường bất động sản Việt Nam. Tuy nhiên, những dự án của Keppel lại toàn tập trung vào những phân khúc khó khăn nhất của thị trường bất động sản - phân khúc khu phức hợp, căn hộ cao cấp.
Có thể kể đến một số dự án đang được Keppel đang triển khai như dự án Nam Rạch Chiếc, khu dân cư phức hợp quy mô hơn 6.000 căn hộ tại quận 2, TP.HCM, dự án Riviera Point ở quận 7 hay the Estella, quận 2.
Đây có thể xem là một chiến lược liều lĩnh của Keppel Land, nhất là khi lượng hàng tồn kho, ế thừa đang tập trung nhiều vào phân khúc mà tập đoàn này đang triển khai. Mặt khác, đây cũng có thể coi là cách nhìn dài hạn của tập đoàn Singapore về tương lai bất động sản Việt Nam.

Phân tích hành vi thương lái Trung Quốc: Chiến dịch "mua tất"

Thứ ba, việc thu mua những thứ không có giá trị đối với thương lái Trung Quốc lại ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp VIệt Nam. Không khó nhận thấy những sản phẩm "quái" mà thương lái Trung Quốc thu mua đều có ảnh hưởng đến yếu tố cân bằng của hệ thực vật, hệ sinh thái. Điển hình là lá điều khô - yếu tố ảnh hưởng độ ẩm của gốc điều và sự màu mỡ của đất.
Thu mua sản phẩm "lạ” là cách để thương lái Trung Quốc xâm nhập các thị trường thủỷ sản, nông sản...của Việt Nam
Mua... lạ
Thương lái Trung Quốc đang "bao thầu" rất nhiều sản phẩm trong ngành nông nghiệp VIệt Nam, từ các sản phẩm gần gũi và như lúa gạo, khoai sắn, cà phê, tiêu, dừa, thủy sản... đến các sản phẩm quái lạ” chưa biết để làm gì như rễ sim, lá điều khô, rễ tiêu hay thậm chí là đỉa, phân trâu khô.
Nếu bình tĩnh nhìn lại, không khó phát hiện những mánh khóe trong chiêu bài "đụng đâu mua đó” của thương lái Trung Quốc. Thứ nhất, "mua tất cả” là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý của người dân về "toan tính" thực sự của họ.
Khi người dân và các cơ quan chức năng còn chưa hết lo lắng về việc thương lái Trung Quốc tấn công "cá tầm" Việt Nam thì mọi sự chú ý lại bắt đầu hướng về việc bán thân cây sắn, rễ cây trưng để "thu về bộn tiền".
Việc thu mua đủ thứ, kể cả những thứ không giá trị là chiêu bài "dương đông kích tây", gây bất ổn xã hội và mất tập trung cho người dân và chính quyền nhằm tập trung các mục tiêu dài hạn như nông sản, sản vật, thuỷ sản...
Thứ hai, những "chiến dịch" thu mua các sản phẩm "không được đặt tên" hầu hết đều diễn ra trong thời gian không lâu. Điều này cho thấy việc thu mua những thứ không có giá trị như đỉa, phân trâu, lá điều khô... đều không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện cho thương lái Trung Quốc "hoành hành" ở Việt Nam.
Việc thu mua các sản phẩm lạ, không có giá trị là điều kiện cần để thương lái Trung Quốc tìm hiểu và thâm nhập các sản phẩm có giá trị như thủy sản, nông sản... mang về lợi nhuận cao hơn. Gần đây nhất, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Trương Thanh Phong, cho biết gạo Việt Nam bị thương nhân Trung Quốc ép giá, hủy hợp đồng nhập khẩu rất nhiều khiến tình hình xuất khẩu gạo gặp rất nhiều khó khăn.
Hậu quả là VFA phải chấp nhận bán giá rẻ để tăng lượng hợp đồng xuất khẩu gạo. Rõ ràng, thị trường gạo Việt Nam đã bị thương lái Trung Quốc "bắt thóp".
Thứ ba, việc thu mua những thứ không có giá trị đối với thương lái Trung Quốc lại ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp VIệt Nam. Không khó nhận thấy những sản phẩm "quái" mà thương lái Trung Quốc thu mua đều có ảnh hưởng đến yếu tố cân bằng của hệ thực vật, hệ sinh thái. Điển hình là lá điều khô - yếu tố ảnh hưởng độ ẩm của gốc điều và sự màu mỡ của đất.
Hay rễ "đủ thứ loại cây", trong đó có tiêu - nông sản xuất khẩu có giá trị cao, rễ sim - thực vật quý có giá trị thảo dược, cây sắn - nông sản làm nguyên liệu công nghiệp quan trọng... Việc thu mua những sản phẩm này có thể gây mất năng suất nông sản, "chảy máu" nguồn thảo dược... ở Việt Nam.
Ba khoảng trống "rủi ro"
Việc thu mua của thương lái Trung Quốc có thể gây nhiều khó khăn cho người dân và chính quyền địa phương là do sự lỏng lẻo của luật pháp, giáo dục và chính sách nông nghiệp. Việc để thương lái Trung Quốc tràn vào thị trường Việt Nam đủ cho thấy sự yếu kém trong việc quản lý nguồn lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Không ít các vụ thương lái Trung Quốc sang mua hàng, thiết lập các hợp đồng lớn nhỏ rồi "biến mất tăm" xảy ra, nhưng phía cơ quan quản lý dường như chẳng quan tâm.
Bên cạnh đó, tính chủ quan từ phía các cơ quan quản lý lẫn người dân cũng là cơ hội để thương lái Trung Quốc len lỏi vào thị trường nông sản Việt Nam. Việc xác định Trung Quốc là một đối tác tiềm năng dựa trên các phán đoán lý thuyết về dân số, thị trường, sự phát triển kinh tế... là hoàn toàn đúng.
Tuy nhiên, việc am hiểu cách làm ăn của thương lái Trung Quốc cũng như tính chuyên nghiệp, sự chủ động trong thương mại của phía Việt Nam dường như vẫn còn rất ít. Thế nên mới có trường hợp "dở khóc dở cười" là thương lái Trung Quốc đơn phương huỷ hợp đồng, ép giá gạo xuất khẩu.
Đặc biệt, chính sách phát triển kinh tế trong ngành nông nghiệp hiện nay còn nhiều bất cập, tạo lợi thế cho thương lái Trung Quốc nhưng lại là khoảng trống rủi ro cho nông nghiệp Việt Nam. Sự xâm nhập và can thiệp vào giống lúa từ phía thương lái Trung Quốc có thời gian đã khiến người nông dân làm theo yêu cầu của họ.
Điều này xuất phát từ nhu cầu đầu ra cho sản xuất nông nghiệp - bài toán nan giải cho Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế vẫn đang để lại nhiều hệ luỵ. Gần đây nhất, một số nhà chuyên môn lẫn lãnh đạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam thường xuyên nhắc đến việc chuyển đổi trồng lúa vụ 3 sang trồng hoa màu nhằm hạn chế nguồn cung gạo đang thừa, giá rẻ.
Tuy nhiên, khi bài toán "gạo giá rẻ” vẫn chưa được giải thì hoa màu được sản xuất ra với lượng lớn vẫn không thể trả lời được câu hỏi "ai đảm bảo đầu ra?". Tất nhiên nếu Nhà nước vẫn loay hoay thì thương lái Trung Quốc sẽ có thể tận "gom" ngô, khoai, sắn.

Chia sẻ tin với bạn: Thị trường yến sào: Dịch cúm chưa qua, "phá giá” đã tới

Với những khó khăn mới, cùng với tác động của dịch cúm trên yến mới xảy ra đã làm giá yến sào trong nước tụt giảm mạnh, từ 30 - 35 triệu đồng/kg nay chỉ còn 20 - 25 triệu đồng/kg. Hàng tồn tăng, giá cả sụt giảm và hàng ngoại vào ồ ạt. Từ đây, nhu cầu chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa từ khâu nuôi - sản xuất - tiêu thụ đang trở nên bức thiết đối với nghề yến sào.
Theo thông tin của Viện Khoa học Công nghệ Phương Nam, gần đây, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu xuất hiện những thương lái đến chào bán nguồn yến sào có giá rất thấp, chỉ 15 triệu đồng/kg. Trong khi đó, giá yến của địa phương hiện tại cao hơn gần gấp đôi khiến người nuôi yến không cạnh tranh được, dẫn đến tình trạng hàng tồn kho.
Theo ông Trần Công Hoàng Quốc Trang, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Phương Nam, trên thị trường hiện nay, ngoài yến nhà, yến đảo, tại Việt Nam còn có yến sào nhập khẩu từ Malaysia, Thái Lan, Indonesia.
So với yến sào Việt Nam, yến sào nhập khẩu chất lượng kém hơn, giá cả "rất dễ thương lượng", có khi chỉ 10 triệu đồng/kg, nguồn hàng dồi dào nên được nhiều doanh nghiệp, cửa hàng nhập về bán và giới thiệu là yến Việt.
Trái lại, tổ yến Việt Nam được nhà nhập khẩu đánh giá có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn những nước khác trong khu vực, nên luôn được định giá cao hơn so với các loại yến sào ngoại nhập, giá bán lẻ trung bình 40 - 50 triệu đồng/kg.
Như vậy, kinh doanh yến sào Malaysia rõ ràng có lợi hơn yến sào Việt Nam, lại không mang tiếng buôn hàng giả, sợ mất uy tín, bởi chất lượng kém đi một phần nhưng vẫn còn hơn hàng giả làm bằng hóa chất, giá cả lại thấp hơn gấp đôi, gấp ba, nên loại yến sào này vẫn có đầu ra tốt tại Việt Nam.
Đáng buồn là một số người hám lợi đã nhập tổ yến của Malaysia để "độn hàng" bán theo giá của yến sào Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Trung Quốc, thị trường tiêu thụ yến số 1 của Malaysia hạn chế nguồn nhập, một lượng lớn tổ yến từ Malaysia đã tràn vào Việt Nam với giá chỉ khoảng 12 - 18 triệu đồng/kg.
Theo phản ánh, chỉ có những người trong nghề mới biết được chất lượng loại yến sào này, còn người tiêu dùng vẫn tưởng mình đã mua được hàng chất lượng tốt nên không không nghi ngờ gì.
Với những khó khăn mới, cùng với tác động của dịch cúm trên yến mới xảy ra đã làm giá yến sào trong nước tụt giảm mạnh, từ 30 - 35 triệu đồng/kg nay chỉ còn 20 - 25 triệu đồng/kg. Hàng tồn tăng, giá cả sụt giảm và hàng ngoại vào ồ ạt. Từ đây, nhu cầu chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa từ khâu nuôi - sản xuất - tiêu thụ đang trở nên bức thiết đối với nghề yến sào.
Theo ông Trang, hình thức tự nuôi yến, tự thu, tự bán đã không còn phù hợp với bối cảnh thị trường hiện tại. Trước mắt, cần hình thành một hiệp hội, tập đoàn để liên kết, ràng buộc các nhà nuôi yến trong một hệ thống với những quy tắc chung.
Cơ quan này sẽ đứng ra hỗ trợ công nghệ trong khâu nuôi, chế biến, đa dạng hóa sản phẩm từ yến để phục vụ thực khách; xây dựng cửa hàng bán lẻ, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và chất lượng cho địa phương...
Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương cần tạo điều kiện phù hợp để ngành sản xuất yến sào phát triển, hỗ trợ cấp giấy phép nhanh chóng và thuận tiện cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn sản xuất, kinh doanh yến sào để tận dụng tối đa nguồn ngoại tệ.

Giới thiệu cùng bạn việc vận hành công nghệ tiệc cưới

Với việc xây dựng cùng lúc ba trung tâm hội nghị - tiệc cưới cao cấp, nhiều ý kiến cho rằng Đông Phương Group sẽ đứng đầu trong ngành nhà hàng tiệc cưới tại TP.HCM. Mặc dù hiện tại, ở phân khúc cấp cao, The Adora vẫn chưa thật sự nổi bật nhưng đến năm 2014, với 4 trung tâm nằm ở những vị trí đắc địa thì The Adora sẽ là một hiện tượng trong lĩnh vực kinh doanh trung tâm hội nghị - tiệc cưới tại TP.HCM.
Nhà hàng chạy cưới
Năm 2013, một loạt trung tâm hội nghị - tiệc cưới cao cấp được xây dựng tại TP.HCM. Trong đó, Đông Phương Group có đến ba dự án, Ben Thanh Land hai trung tâm, Công ty PQC Hospitality - chủ đầu tư White Palace và Liberty Corp mỗi đơn vị triển khai thêm một điểm kinh doanh mới...
Những ngày này, dự án The Adora Grand View của Đông Phương Group trên đường Ngô Gia Tự đang vào giai đoạn hoàn tất trang trí nội - ngoại thất để đưa vào vận hành trong tháng 8 tới.
Theo chủ đầu tư, sau khi đi vào hoạt động, The Adora Grand View sẽ là một trung tâm hội nghị - tiệc cưới có mặt tiền lớn nhất thành phố hiện nay (chiều dài mặt tiền đến 150m. The Adora Grand View có diện tích 22.000m2, vốn đầu tư trên 100 tỷ đồng, gồm 7 sảnh tiệc với sức chứa cùng lúc lên đến 5.000 khách.
Và so với các "trung tâm cùng cấp", The Adora Grand View có kiến trúc nội thất đẳng cấp hơn nhiều. Nếu như các Trung tâm hội nghị - tiệc cưới Grand Palace, Diamond Palace, Callary... sử dụng sảnh đón khách chung, thì ở The Adora Grand View, mỗi sảnh tiệc (diện tích từ 700 - 1.200m2) được thiết kế với sảnh đón khách (diện tích từ 300 - 500m2) riêng...
Trong khi đó, trung tâm The Adora Phú Mỹ Hưng và The Adora Hoàng Văn Thụ cũng đang trong quá trình xây dựng. Theo kế hoạch, The Adora Hoàng Văn Thụ sẽ đi vào hoạt động trong năm 2014 và The Adora Phú Mỹ Hưng khai trương vào cuối năm nay.
120
Ước tính đến thời điểm này, tại TP.HCM có khoảng 120 trung tâm hội nghị - tiệc cưới, trong đó, một số thương hiệu được định vị ở phân khúc cao cấp như The Adora, Riverside Palace, Diamond Place, Metropole, Glorious, Saphire, Grand Palace...
Kể từ khi mô hình nhà hàng tiệc cưới chuyên nghiệp đầu tiên Sinh Đôi ra mắt, ước tính đến thời điểm này, tại TP.HCM có khoảng 120 trung tâm hội nghị - tiệc cưới, trong đó, một số thương hiệu được định vị ở phân khúc cao cấp như The Adora, Riverside Palace, Diamond Place, Metropole, Glorious, Saphire, Grand Palace...
Với lợi nhuận cao, ngày càng có nhiều dự án tương tự xuất hiện. Trong cuộc chạy đua vào trung tâm hội nghị - tiệc cưới, Công ty Ben Thanh Land cũng đã khởi công hai dự án từ tháng 4 vừa qua.
Trong đó, Claris Palace được xây dựng trên khuôn viên rộng 5.730m2tại Thủ Đức với vốn đầu tư 40 tỷ đồng, đẳng cấp 4 sao. Cùng lúc đó, Công ty cũng khởi công dự án Trung tâm Nam Á Convention & Wedding tại quận Phú Nhuận và tăng vốn đầu tư mở rộng giai đọan ba cho dự án Riverside Palae.
Không dừng lại với White Palace, Công ty PQC Hospitality đang chuẩn bị ra mắt thêm một dự án mang một thương hiệu mới tại vị trí đắc địa ở TP.HCM vào cuối năm 2013.
Dự án mới này công suất phục vụ tương đương White Palace nhưng sẽ đầu tư hiện đại, cao cấp hơn về quy mô cũng như tăng thêm nhiều thiết bị, dịch vụ hỗ trợ cho nhu cầu tổ chức các sự kiện lớn, các show trình diễn.
Chủ đầu tư thương hiệu Metropole cũng tiết lộ sẽ mở rộng thêm hệ thống tại TP.HCM với quy mô lớn hơn Metropole hiện hữu.
So với nhiều lĩnh vực khác, kinh doanh trung tâm hội nghị - tiệc cưới đang mang lại doanh thu khá lớn. Theo khảo sát của một công ty chuyên kinh doanh nhà hàng tiệc cưới có tiếng tại TP.HCM, doanh thu của ngành này trên địa bàn đạt khoảng 10.000 tỷ đồng/năm.
Tính bình quân, một trung tâm hội nghị tiệc - cưới có thể đạt doanh số khoảng 100 tỷ đồng/năm với lợi nhuận 20 - 30%, tăng trưởng doanh thu từ 10 - 15% hằng năm. Mỗi năm có khoảng 47.000 người kết hôn.
Theo phân tích của một nhà đầu tư bất động sản thì kinh doanh trung tâm hội nghị tiệc cưới trong thời điểm này lợi thế hơn rất nhiều so với các dự án căn hộ, cao ốc văn phòng.
Nếu cùng một diện tích, đầu tư vào căn hộ cao cấp hay cao ốc văn phòng cho thuê sẽ khó tìm khách hàng hơn đầu tư vào trung tâm hội nghị - tiệc cưới, bởi nhu cầu đang rất lớn và đây là thị trường còn rất nhiều tiềm năng.
Bên cạnh đó, chi phí đầu tư vào lĩnh vực này không quá lớn (do quy mô các trung tâm hội nghị - tiệc cưới thường không quá nhiều tầng), khả năng thu hồi vốn nhanh (trung bình sau bốn năm các dự án đã được hoàn vốn), việc thu hồi công nợ không rủi ro như các lĩnh vực khác do khách hàng phải thanh toán ngay sau khi sử dụng dịch vụ.
Hiệu quả từ mô hình kinh doanh này đã "kích" các DN kinh doanh bất động sản, thiết kế xây dựng chuyển hướng đầu tư. Điển hình là Công ty Ben Thanh Land, Công ty TNHH Võ Trọng Nghĩa...
Phát biểu tại đại hội cổ đông năm 2013, ông Nguyễn Cao Trí, Tổng giám đốc Ben Thanh Land, cho biết, năm 2011, thị trường bất động sản đóng băng nên công ty đã chuyển hướng đầu tư từ lĩnh vực địa ốc sang lĩnh vực thương mại dịch vụ.
Cụ thể, Ben Thanh Land đã cùng một số đối tác trong Ben Thanh Group đầu tư trên 100 tỷ đồng cho Trung tâm hội nghị - tiệc cưới Riverside Palace. Chỉ sau ba năm, dự án đã hoạt động hiệu quả và mang lại nguồn thu đáng kể cho công ty.
Đua thăng hạng 5 sao
Hơn một trăm trung tâm tiệc cưới từ thấp đến cao cấp đang tạo sức ép cạnh tranh quyết liệt.
Ông Huỳnh Văn Văn, Giám đốc Trung tâm hội nghị Tiệc cưới Metropole, dự báo:
"Dịch vụ tiệc cưới sẽ bão hòa trong vòng 5 năm nữa. Và khi cung vượt cầu, khách hàng có nhiều cơ hội để chọn lựa dịch vụ, nếu muốn tồn tại, cần phải khẳng định được chất lượng và để lại dấu ấn trong lòng khách hàng, khiến cho khách hàng quay trở lại cũng như chủ động giới thiệu thông tin đến người khác".
Các dự án của Đông Phương Group theo chiến lược cao cấp hơn từ thiết kế đến dịch vụ. Không chỉ thế, DN này còn cạnh tranh bằng giá cả.
"Với số lượng nhà hàng lớn, Đông Phương Group sẽ có được giá tốt từ nhà cung cấp thực phẩm, và như vậy cũng sẽ có giá tốt cho khách hàng. Trước đây, khách hàng cao cấp thường vào khách sạn 5 sao nhưng với những nhà hàng tiệc cưới mới của Đông Phương, khách hàng có thể được phục vụ theo tiêu chuẩn tương tự nhưng giá rẻ bằng phân nửa", ông Bùi Thanh Lương, Giám đốc Điều hành Đông Phương Group, cho biết.
300 triệu đồng
Theo khảo sát của Tập đoàn Home Credit, tổng chi phí bình quân cho một đám cưới có khoảng 300 khách mời ở Việt Nam là 100 triệu đồng, với điều kiện không tổ chức ở nhà hàng, khách sạn sang trọng.
Với các dự án của Ben Thanh Land, ông Nguyễn Đình Toàn, Giám đốc M.I.N.H Hospitality Consulting, đơn vị quản lý Riverside Palace cũng cho biết:
"Các sảnh được thiết kế sang trọng với hệ thống âm thanh, ánh sáng cùng công nghệ hiện đại đáp ứng cho nhiều loại sự kiện, có thể phục vụ cùng lúc 2.000 - 3.000 khách. Đặc biệt, Công ty chú trọng marketing, chủ động đưa ra nhiều cách kích cầu để phục vụ và tìm khách hàng".
Cuộc đua giành thị phần trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng tiệc cưới ở tất cả các phân khúc, từ bình dân, cấp trung cho đến cao cấp đang diễn ra. Tuy nhiên, nếu tính về số lượng, hiện nay, Đông Phương Group đang đứng ở vị trí số 1 tại TP.HCM với 5 trung tâm kinh doanh tiệc cưới.
Riêng ở phân khúc cấp trung, Đông Phương Group đã gần như nắm giữ thị trường. Bốn nhà hàng Le Đông Phương tại Nguyễn Văn Quá (Q.12), Hoàng Văn Thụ và Hoàng Việt (Q.Tân Bình), Lũy Bán Bích (Q.Tân Phú)... từ 6 - 12 sảnh đều kín khách đặt tiệc.
Vào các ngày cuối tuần, các đoạn đường ngang khu vực nhà hàng Le Đông Phương luôn trong tình trạng kẹt xe. Theo tiết lộ từ chủ đầu tư, tất cả các nhà hàng của Đông Phương đều kinh doanh hiệu quả từ nhiều năm nay.
Đông Phương đã thâm nhập vào thị trường đa dạng với đa phân khúc khách hàng khác nhau. Chỉ riêng ở phân khúc cấp trung, các nhà hàng Le Đông Phương tại mỗi khu vực đều có mức giá phù hợp với dân cư ở đó.
Chẳng hạn, với Le Đông Phương Lũy Bán Bích, giá một bàn tiệc trung bình 2,8 triệu đồng, Nguyễn Văn Quá là 2,6 triệu đồng, Hoàng Việt và Hoàng Văn Thụ là 3 triệu đồng...
Với việc xây dựng cùng lúc ba trung tâm hội nghị - tiệc cưới cao cấp, nhiều ý kiến cho rằng Đông Phương Group sẽ đứng đầu trong ngành nhà hàng tiệc cưới tại TP.HCM. Mặc dù hiện tại, ở phân khúc cấp cao, The Adora vẫn chưa thật sự nổi bật nhưng đến năm 2014, với 4 trung tâm nằm ở những vị trí đắc địa thì The Adora sẽ là một hiện tượng trong lĩnh vực kinh doanh trung tâm hội nghị - tiệc cưới tại TP.HCM.
4 "đám rước", 1 "đám đưa"
Dù chưa đến ngưỡng bão hòa nhưng một số nhà hàng đầu tư tiền tỷ đã chết yểu.
Nhiều nhà đầu tư cho rằng, kinh doanh nhà hàng tiệc cưới bây giờ không dễ dàng như lúc trước. Để tồn tại, phải mở những trung tâm hoành tráng, trên các trục đường lớn và vị trí đẹp. Theo tính toán của các nhà đầu tư, một trung tâm tiệc cưới 6 sảnh tiệc có mức đầu tư từ 80 - 150 tỷ đồng.
Đó là chưa kể đầu tư cho máy móc, trang thiết bị của nhà hàng. Chẳng hạn, một máy hấp đa năng nhập từ châu Âu với 40 khay, phục vụ cho 40 - 60 bàn tiệc có giá 40.000 USD. Để phục vụ cho 200 bàn tiệc, trung tâm đó cần phải có đến 5 máy như thế.
Theo ông Nguyễn Đình Toàn, Giám đốc M.I.N.H Hospitality Consulting, đơn vị quản lý Riverside Palace, vốn đầu tư vào trung tâm hội nghị - tiệc cưới trung bình khoảng từ 40 - 200 tỷ đồng, tùy quy mô, thời gian hoàn vốn khoảng bốn năm.
Tuy nhiên, cái khó của lĩnh vực này là ngành "làm dâu trăm họ” nên ngoài năng lực đầu tư và hoạch định chiến lược, cần phải có năng lực quản lý, đội ngũ nhân sự có chuyên môn, kinh nghiệm, nhạy bén.
80 - 150 tỷ đồng
Một trung tâm tiệc cưới 6 sảnh tiệc có mức đầu tư từ 80 - 150 tỷ đồng, chưa kể đầu tư cho máy móc, trang thiết bị của nhà hàng.
Với những nhà hàng không có mảng tổ chức sự kiện, doanh thu từ tiệc cưới khó bù lại chi phí trong thời gian nhàn rỗi.
Bà Quỳnh Dao, Trưởng phòng Marketing Công ty PQC Hospitality cũng tiết lộ: "Những năm gần đây, nhất là hai năm 2012 và 2013, dù công suất hoạt động của White Palace luôn đạt tỷ lệ cao, nhưng trước việc nở rộ các trung tâm tiệc cưới - hội nghị, phòng markeing cũng bị áp lực.
Trước đây, không đăng ký được ở một vài trung tâm tiệc cưới lớn, khách hàng thường chỉ có chọn lựa là tổ chức tại các khách sạn, nhưng hiện nay có nhiều lựa chọn hơn".
Khó khăn lớn nhất trong kinh doanh nhà hàng tiệc cưới là mặt bằng. Theo tính toán của một nhà đầu tư, vị trí mặt bằng chiếm đến 50% thành công của một nhà hàng kinh doanh tiệc cưới. Nhưng kiếm được một mặt bằng đẹp, nơi đông dân cư, giao thông thuận tiện với quỹ đất lớn trong điều kiện hiện tại là điều không dễ.
Hiện nay, số lượng mặt bằng đang bị ngành bán lẻ như trung tâm thương mại, siêu thị án ngữ. Chẳng vậy mà đã có nhiều dự án tuy đầu tư khá quy mô nhưng vẫn vắng khách, buộc phải ngưng hoạt động hoặc bán lại như trường hợp của Atlantic trên đường Điện Biên Phủ được coi là điển hình của việc chọn địa điểm đầu tư không tốt.
Hoặc Nhà hàng tiệc cưới Gió và Nước của KTS. Võ Trọng Nghĩa nằm ở đường Lý Chiêu Hoàng quận 6, tuy thiết kế được đánh giá đẹp, quy mô hoành tráng nhưng chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động đã phải ngậm ngùi sang nhượng vì vị trí không thuận tiện.
Kể cả Nhà hàng tiệc cưới Ánh Linh, dù kỳ vọng của chủ đầu tư là kinh doanh theo mô hình dịch vụ cưới khép kín từ thuê áo cưới, chụp hình, trang điểm cô dâu, xe hoa, tổ chức tiệc cưới, nhưng cuối cùng cũng không tiếp tục hoạt động đđược.