Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Tìm hiểu việc lấy lòng người tiêu dùng: cần thay đổi về chất

Cạnh tranh nhau, những thông tin về chương trình khuyến mãi, những mặt hàng đang có giá rẻ hầu như đều được từng hệ thống siêu thị đưa lên trang thông tin điện tử của mình và in thành tờ rơi phát đến tận tay khách hàng. Trong từng thời điểm, người tiêu dùng dễ dàng so sánh giá cả để chọn đi siêu thị nào. Thêm ngành hàng, thêm dịch vụ để thu hút mọi đối tượng khách là hướng đi của các siêu thị, đại siêu thị...
Luôn quảng cáo “giá rẻ, giá tốt nhất”, đủ mọi cách chăm sóc khách hàng, nhưng thành công hay thất bại, nhà đầu tư có khi khó lường trước. Báo chí liên tục đưa tin siêu thị lấn lướt chợ, nhưng thực tế cũng không ít siêu thị phải đóng cửa.
Vị trí đắc địa, hàng hóa phong phú, phục vụ tận tình và thuận tiện cho khách hàng là điều mà nhà kinh doanh nào cũng muốn (ảnh mang tính minh họa). Ảnh: Thanh Hảo
Thành, bại khó lường
Nhìn qua lịch sử phát triển của tập đoàn Dairy Farm dưới các thương hiệu nổi tiếng tại các nước như siêu thị Wellcome, Cold Storage, Giant, Lucky, Rustan’s and Shopwise, đại siêu thị Giant và Shopwise..., thật khó nghĩ Dairy Farm sẽ khó khăn ở thị trường Việt Nam.
Năm 2007, Dairy Farm thông qua công ty con là Giant South Asia Việt Nam đã thuê lại các siêu thị Citimart của công ty Đông Hưng để thâm nhập thị trường Việt Nam bằng thương hiệu siêu thị Wellcome. Đến cuối năm 2011, Dairy Farm tiếp tục khai trương đại siêu thị Giant đầu tiên tại Việt Nam, tiếp theo là chuỗi cửa hàng chăm sóc sức khoẻ và sắc đẹp Guardian, người ta tưởng Dair Farm củng cố thêm nền tảng tại Việt Nam. Thế nhưng, vừa kết thúc hợp đồng năm năm với công ty Đông Hưng, Giant South Asia Việt Nam đã trả lại toàn bộ mặt bằng và chấm dứt hoạt động của hệ thống siêu thị Wellcome tại Việt Nam.
Thực tế, không chỉ nhà đầu tư nước ngoài thất bại mới nghĩ đến lời khuyến cáo trên. Ở TP.HCM, siêu thị Hà Nội ở quận Phú Nhuận, siêu thị Satramart ở quận Tân Bình, Fivimart siêu thị ở quận 7… đóng cửa mà chưa thể lý giải do phong cách phục vụ không phù hợp với người tiêu dùng, hay lựa chọn vị trí không đúng.
Sử dụng kiến thức, sự hiểu biết về thói quen chi tiêu và mua hàng của khách hàng địa phương để điều chỉnh dịch vụ cho phù hợp, trước quyết định đầu tư là khuyến cáo được nhiều chuyên gia đề cập. Chẳng hạn, người dùng Việt Nam vẫn thích “cá đang bơi” làm tại chỗ hơn là cá làm sẵn để đông lạnh...
Giá rẻ chưa đủ
Cạnh tranh nhau, những thông tin về chương trình khuyến mãi, những mặt hàng đang có giá rẻ hầu như đều được từng hệ thống siêu thị đưa lên trang thông tin điện tử của mình và in thành tờ rơi phát đến tận tay khách hàng. Trong từng thời điểm, người tiêu dùng dễ dàng so sánh giá cả để chọn đi siêu thị nào. Thêm ngành hàng, thêm dịch vụ để thu hút mọi đối tượng khách là hướng đi của các siêu thị, đại siêu thị...
Thế nhưng ngoài giá, sự chọn lựa của người tiêu dùng còn dựa vào những tiêu chuẩn khác.
Chị Nguyễn Thị Tâm ở Phú Nhuận (TP.HCM) so sánh trong thời buổi khó khăn, đi siêu thị gửi xe 1.000 đồng sẽ dễ chịu hơn mất 4.000 – 5.000 đồng. Chị đều thích đi siêu thị Co.opmart, BigC, Maximark vì giá tốt tương đương nhau, nhưng mỗi sáng muốn đi mua thức ăn trước khi đi làm thì chị chỉ vào Co.opmart vì mở cửa sớm hơn. Anh Trần Ngọc Thạnh ở Cần Thơ tỏ ra e ngại với những mặt hàng thuỷ sản giá rẻ trong các siêu thị được đóng gói rất hời hợt: cá, tôm đặt lên vỉ nhựa rồi bọc lại bằng loại nilông trong cuộn mà các bà nội trợ hay dùng bao thức ăn ngăn mùi trong tủ lạnh, vậy mà hạn sử dụng đến cả năm. Đó là chưa kể, rau, củ, quả, tôm, cá... ở siêu thị không phải lúc nào cũng mới, tươi, ngon như ở chợ.
Muốn mở đại siêu thị, cho dù ở tỉnh thành nào, các nhà đầu tư thường phải chọn vị trí mặt bằng ở ngoại thành. Với người tiêu dùng, dẫu biết giá có rẻ hơn, nhưng đi xa để mua sắm trong siêu thị hiện đại không bằng đi chợ gần nhà. Để thu hút khách hàng, ở Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nam Định, Đồng Nai, Huế, Đà Nẵng, Vinh, Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hoá, Cần Thơ và Big C An Lạc ở TP.HCM, Big C đã tổ chức xe đưa đón khách miễn phí đến siêu thị. Cách làm này khá thành công trước đây, nhưng giờ ở TP.HCM hay Hà Nội, không chỉ Big C mà bất kỳ siêu thị nào cũng thấy những cửa hàng tiện lợi mọc lên ngày càng nhiều ở các khu dân cư làm mất đi một phần doanh thu của họ bởi người đi xe máy chẳng mất tiền gửi xe mà đến cửa hàng tiện lợi mua gần hơn, giá cũng tương đương siêu thị.
Theo ông Florian Beranek, cố vấn trưởng dự án Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiểu biết và thực hiện trách nhiệm xã hội (do Liên minh châu Âu tài trợ), nói cách nào thì nhà phân phối – bán lẻ đưa ra giá phải đi kèm với chất lượng đảm bảo thì mới đứng được trên thị trường ngày càng cạnh tranh. Ông chia sẻ thêm kinh nghiệm từ những người tiêu dùng ở châu Âu, họ chỉ mua những sản phẩm có mã vạch rõ ràng và lưu giữ mã vạch để có thể kiện nhà sản xuất lẫn nhà bán lẻ khi phát hiện hàng kém chất lượng.
Ở nhiều siêu thị, người tiêu dùng vẫn thường xuyên thấy xuất hiện, rau hư, trái cây héo... chứng tỏ họ vẫn chưa quản trị tốt, cũng như chưa tổ chức được nguồn hàng tốt từ đầu nguồn sản xuất...

Trả lời cho câu hỏi: Hàng VN vào Mỹ, chấp nhận ngõ hẹp hay tìm cửa lớn?

Ý kiến đó đáng để suy nghĩ vì trong tình hình kinh tế thế giới chưa hết khó khăn, các nước xuất khẩu gặp khó vì bị áp thuế và bị các thị trường lớn sử dụng rào cản kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu, thì việc xuất khẩu qua các kênh siêu thị bán lẻ lớn ở Mỹ là một hướng giúp doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập sâu hơn vào thị trường lớn này.
Hàng Việt Nam trong siêu thị Cao Nguyên ở Oklahoma
Tiếc khi trong những hệ thống siêu thị, đại siêu thị có tiếng của Mỹ, hàng do Việt Nam sản xuất quá ít ỏi và phải nấp dưới thương hiệu nước ngoài.
Chỉ mới đến ngõ
Hơn 1 triệu người Việt Nam đang sống tại Mỹ là lực lượng tiêu thụ đáng kể, nhất là đối với các mặt hàng thực phẩm. Người Việt Nam sống ở Mỹ hiện giờ muốn ăn bất cứ món ăn Việt nào cũng có, không đủ thời gian thì ra các nhà hàng, thích nấu nướng tại nhà thì ra các chợ hoặc siêu thị mua thực phẩm về chế biến.
Trong các chợ do người Việt làm chủ, không thiếu loại rau củ quả tươi nào đã quen thuộc với người Việt Nam, kể cả những loại rất bình dân như rau muống, rau lang, rau dền…; có đủ những loại khô, mắm, nước chấm, gia vị đặc trưng như mắm nêm, tương bần, mắm ruốc chà… được ưa chuộng của các vùng miền Việt Nam; có cả những loại trái cây mà người nước ngoài không quen hương vị thì nói là “không chịu nổi mùi” như mít, sầu riêng.
Về thực phẩm chế biến công nghiệp, những nhãn hiệu Việt Nam nhan nhản trên những sản phẩm bánh tráng, mì ăn liền, mì vắt, hủ tiếu, phở, bún khô, nước mắm, nước tương, cà phê, bột làm bánh…, thấy mà vui.
Vui hơn nữa khi được nghe chính những chủ chợ là người Hoa cũng nói tỷ lệ hàng Việt Nam mà họ nhập sang ngày càng tăng nhiều so với hàng nhập từ Trung Quốc hay một số nước châu Á khác vì tầm ảnh hưởng của ẩm thực Việt Nam đang lan nhanh ở Mỹ.
Số liệu thống kê từ hải quan ghi nhận từ năm 2003 đến nay, Mỹ luôn là thị trường giành vị trí quán quân về tiêu thụ hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam.
Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ khoảng 20 tỉ USD, tăng 16,19% so với năm 2011, chiếm 17,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng đầu trong các thị trường xuất siêu của Việt Nam.
Quý I/2013, xuất khẩu vào Mỹ trên 4,74 tỉ USD, tiếp tục tăng 16,74% so cùng kỳ. Theo dự báo, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ có thể đạt 22,5 tỉ USD trong năm nay.
Những số liệu trên nghe đáng phấn khởi và càng khẳng định sự hiện diện nhiều hơn hàng Việt Nam ở Mỹ. Tuy vậy đáng tiếc là thực tếở Mỹ, hàng Việt Nam chỉ mới có mặt nhiều ở những chợ nhỏ, đơn lẻ của người Việt và người Hoa, chủ yếu là thực phẩm.
Còn trong những hệ thống siêu thị, đại siêu thị như Walmart, Kroger, Costco…, hàng do Việt Nam sản xuất quá ít ỏi trong vô vàn hàng hóa có xuất xứ từ nhiều nước và nếu có thì không với chính nhãn hiệu Việt Nam, mà phải nấp dưới thương hiệu nước ngoài, ngay cả với những mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng tiêu dùng xuất khẩu sang Mỹ như hàng may mặc, giày dép, đồ gỗ, thủy sản, túi xách.
Tìm vào cửa lớn: có cam phận ẩn danh?
Hỏi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng sang Mỹ nguyên nhân của tình trạng trên, phần lớn đều nhìn nhận họ chưa tiếp cận được các hệ thống siêu thị lớn của Mỹ. Hàng thực phẩm xuất khẩu qua các chợ của người Việt hay người Hoa cũng hầu như do nhà nhập khẩu nhận thấy nhu cầu tại Mỹ mà tìm về Việt Nam mua hàng.
Điều này bộc lộ hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tìm hiểu thị trường và tiếp thị, mặc dù những quy định về vệ sinh thực phẩm, an toàn tiêu dùng của hàng hóa cũng như các thủ tục khi xuất khẩu vào thị trường này doanh nghiệp đã có kinh nghiệm.
Tiếp xúc với những người tiêu dùng Mỹ, họ đưa ra nhận xét: việc tranh thủ người Việt Nam định cư tại Mỹ làm đại lý phân phối hay trực tiếp bán lẻ tới cộng đồng người Việt Nam là cần thiết, nhưng số lượng hàng hóa tiêu thụ không thể nhiều và không đa dạng.
Trong khi các hệ thống phân phối lớn của Mỹ có mặt không những ở khắp nước Mỹ mà còn mở rộng ra các nước khác, kinh doanh đa dạng ngành hàng, thỏa nhu cầu nhiều đối tượng, nên số lượng tiêu thụ lớn gấp vài chục lần.
Ý kiến đó đáng để suy nghĩ vì trong tình hình kinh tế thế giới chưa hết khó khăn, các nước xuất khẩu gặp khó vì bị áp thuế và bị các thị trường lớn sử dụng rào cản kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu, thì việc xuất khẩu qua các kênh siêu thị bán lẻ lớn ở Mỹ là một hướng giúp doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập sâu hơn vào thị trường lớn này.
Tập đoàn bán lẻ Kroger của Mỹ đã có cuộc gặp trao đổi với một số doanh nghiệp Việt Nam vào giữa tháng 5 vừa qua.
Ông Tim Kelbel, phó chủ tịch phụ trách nhãn hiệu doanh nghiệp và nguồn cung toàn cầu của Kroger cho biết tập đoàn này dự kiến sẽ mua trực tiếp từ Việt Nam đồ gỗ, quần áo, thực phẩm, hải sản, gạo, tiêu, cà phê, hạt điều, rau quả đóng hộp, dừa, hương liệu gia vị…
Walmart – tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới với doanh số trên 400 USD/năm – cũng đã có giấy phép mua hàng tại Việt Nam, đang được doanh nghiệp quan tâm.
Yêu cầu của những nhà phân phối lớn trên là hàng hóa phải đạt tiêu chuẩn được công nhận trên toàn cầu như HACCP, Global GAP và các yếu tố về trách nhiệm xã hội, môi trường.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cho biết có thể đáp ứng được những yêu cầu đó sau nhiều năm làm ăn với quốc tế; nhưng bằng cách nào, con đường nào để hàng Việt Nam được hiện diện trong các siêu thị lớn?
Đáng mừng là nhiều doanh nghiệp Việt chọn con đường chính thống, ghi “made in Việt Nam”, tên nhà sản xuất trên sản phẩm để vừa tăng số lượng và chủng loại hàng vừa tạo ấn tượng tốt cho người tiêu dùng Mỹ về hàng xuất xứ Việt Nam bằng chất lượng.
Còn về lâu dài, rõ ràng là chúng ta chưa tận dụng hết quan hệ ngoại giao, các hiệp định thương mại… giúp doanh nghiệp trong nước ghi dấu ấn ở thị trường có lượng tiêu thụ hàng hóa lớn này.

Khám phá sự việc "Tháo chạy" khỏi trung tâm thương mại vì thua lỗ

Ở Parkson tại Keangnam Landmark, tuy không có tình trạng các gian hàng đóng cửa nhưng không khí mua sắm khá trầm lắng. Đa số các quầy bán hàng thời trang, mỹ phẩm chiếm tại đây trưng biển giảm giá 10-50% nhưng lượt khách chỉ đếm trên đầu ngón tay một ngày. Theo chủ nhiều gian hàng, họ vẫn duy trì được kinh doanh là do phí thuê mặt bằng được tính theo phần trăm doanh thu.
Nhiều tiểu thương Hà Nội đóng cửa gian hàng, sang nhượng mặt bằng ở các trung tâm thương mại do kinh doanh thua lỗ. Trong khi đó, không ít khu mua sắm, giải trí tại Sài Gòn cũng rơi vào cảnh chợ chiều vì vắng khách dù giảm giá khủng.
Do mặt bằng trống tăng cao, nhiều trung tâm thương mại tại Hà Nội buộc phải đóng cửa để tái cơ cấu. Tiểu thương cũng tìm mọi cách thanh lý hợp đồng để cắt lỗ.
Nhiều gian hàng đóng cửa tại Hàng Da Galleria.
Chị Hoa, ngụ quận Ba Đình, Hà Nội kể lại suất đầu tư thất bại hồi năm 2011. Thời điểm đó, chị từng thuê một gian hàng tại Trung tâm thương mại Grand Plaza (Trần Duy Hưng) để bán quần áo. Giá thuê hơn 2.000 USD mỗi tháng. Tuy nhiên, chỉ sau 4 tháng kinh doanh, chị Hoa bị lỗ hơn 100 triệu đồng vì khách quá ít. Không thể cầm cự thêm, chủ gian hàng quyết định dừng kinh doanh.

"Việc bán hàng tại đây rất khó khăn vì khách thưa thớt. Trước khi đóng cửa, đơn vị quản lý trung tâm có khuyến mại mấy tháng thuê tôi cũng không dám đặt tiền tiếp vì lo lỗ thêm", chị Hoa nói. 

Do tỷ lệ lấp trống quá thấp nên 6 tháng trước, đơn vị quản lý trung tâm này đã tăng phí dịch vụ hơn một triệu đồng mỗi m2. Sau đó không lâu, trung tâm tuyên bố đóng cửa để tái cơ cấu.
Trao đổi với P.V, đại diện Công ty cổ phần Quản lý Tài sản IDJ (IDJ A) - đơn vị quản lý Trung tâm thương mại Grand Plaza cho biết, đến nay lãnh đạo công ty vẫn chưa có kế hoạch cụ thể về việc mở cửa trở lại.
Trung tâm thương mại hàng Da sau hơn 2 năm hoạt động, cũng công bố đóng cửa để nâng cấp, sửa chữa. Hiện nay khu mua sắm này chỉ còn tầng một hoạt động kiểu "cầm cự". Từ tầng 2 trở lên, đơn vị quản lý đang tu sửa lại. Rất nhiều gian hàng đóng cửa hoặc còn trống, một số khác treo biển chuyển nhượng.

Chị Hương, chủ một gian hàng tạp hóa tại đây cho biết vừa quyết định ngừng kinh doanh. Mỗi tháng, chỉ tính tiền thuê mặt bằng, chị phải chi hơn 15 triệu đồng. Thêm vào đó là các chi phí dịch vụ, marketing, thuế trung gian khiến chủ gian hàng mỗi tháng trung bình phải chi trên 20 triệu đồng.
Tuy nhiên, mua bán trầm lắng và ế ẩm đến độ chị phải gồng mình chịu lỗ nặng sau 5 tháng kinh doanh. "Vừa rồi mình phải thanh lý hàng tồn với giá lỗ cho một đại lý khác", chị Hoa bộc bạch.

Tại một số trung tâm thương mại mới hoạt động như Mipec Tower (tên cũ là Pico Mall trên phố Tây Sơn, Đống Đa), Parkson tại Keangnam Landmark (Phạm Hùng, Từ Liêm)... tình hình cũng không khả quan hơn. Hoạt động khá lâu nhưng hiện gần như toàn bộ tầng 3 của Mipec Tower vẫn còn trống. Chủ một nhà hàng kem tại Mipec Tower cũng đang tìm người chuyển nhượng.
Anh này cho biết, đặc thù mặt hàng kinh doanh này phụ thuộc vào sự sôi động tại trung tâm. Tuy nhiên, khách đến mua quá ít nên sau một thời gian kinh doanh, anh đã không trụ nổi.

Ở Parkson tại Keangnam Landmark, tuy không có tình trạng các gian hàng đóng cửa nhưng không khí mua sắm khá trầm lắng. Đa số các quầy bán hàng thời trang, mỹ phẩm chiếm tại đây trưng biển giảm giá 10-50% nhưng lượt khách chỉ đếm trên đầu ngón tay một ngày. Theo chủ nhiều gian hàng, họ vẫn duy trì được kinh doanh là do phí thuê mặt bằng được tính theo phần trăm doanh thu.
Nhận định của CBRE, rào cản đối với người mua hàng tại các trung tâm này là các khoản thuế trung gian bằng gần 50% giá trị của sản phẩm. Đây là một trong những nguyên nhân khiến một số dự án như Grand Plaza và Hàng Da Galleria đóng cửa và tái cấu trúc trong thời gian qua.

Tuy nhiên đại diện IDJ A cho rằng, hiện phân khúc thị trường bán lẻ cao cấp đang gặp khó khăn chung chứ không riêng vì Grand Plaza. "Một số chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý cũng nhìn thấy phương án triển khai tốt nhưng vẫn có kết quả không mấy khả quan. Việc thực hiện dù có chuyên nghiệp hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào thị trường", vị này cho hay.
Dù các gian hàng tại Parkson Keangnam Hà Nội giảm giá mạnh nhưng vẫn vắng khách.
Tình trạng các điểm mua sắm, giải trí tại Sài Gòn, đặc biệt là ở rìa nội đô cũng ảm đạm không kém. Nhiều trung tâm thương mại khu Nam TP HCM có người bán đông hơn khách mua. Tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng, trung tâm thương mại Thiên Sơn Plaza, Saigon Paragon, Crescent Mall và nhiều khu giải trí dịch vụ đều cùng chung cảnh ngộ vắng khách.
Chị Mai, nhân viên shop quần áo và phụ kiện thời trang tại Crescent Mall cho hay, chị vào làm việc tại khu mua sắm này từ cuối năm 2012. Nửa năm qua, buôn bán rất khó khăn, các ngày trong tuần chỉ vài người mua sắm. "Cuối tuần lượng người nhỉnh hơn một chút nhưng không đủ sức vực dậy tình trạng ảm đạm", chị Mai cho hay.
Saigon Paragon cũng không thoát khỏi cảnh chợ chiều. Không nhiều khách mua sắm, cụm chiếu phim tại Paragon cũng bị ảnh hưởng. Vào giờ cao điểm xem phim buổi tối, các rạp đều thưa khách.
Tương tự, Tajmasagon Cinema của Khải Silk cũng lác đác vài người xem phim trong giờ cao điểm dù trên các nhóm mua vé vào cổng đã kèm suất ăn nhẹ giảm hơn 60%.
Chủ tịch một Tập đoàn bán lẻ tại TP.HCM và Hà Nội lý giải, công suất hoạt động của các trung tâm thương mại, giải trí giảm vì nguồn cung quá nhiều hoặc vị trí không phù hợp dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả.
Vị này phân tích, sự tháo chạy của các tiểu thương không loại trừ họ là những tay ngang kinh doanh kiểu nghiệp dư. Với nhóm người này, lúc đầu ồ ạt khai trương nhưng 6 tháng sau xin giảm tiền thuê, 12 tháng sau trả lại mặt bằng, thậm chí đóng cửa là hết sức bình thường.
"Làm trong ngành bán lẻ, đôi khi phải chấp nhận lỗ 1-2 năm để nắm được cơ hội lâu dài", ông nói
Theo chuyên gia này, ở Việt Nam có nhiều trung tâm thương mại chạy theo phong trào mà thiếu sự định vị. Còn phải tùy thuộc vào từng mặt hàng để chọn vị trí kinh doanh.
Chẳng hạn như buôn hàng hiệu trong một thành phố, chỉ có thể chọn một vị trí đắc địa nhất để mở cửa hàng. "Trên thực tế có mở nhiều cũng không biết bán cho ai, trừ khi sức mua tăng cao và duy trì trong thời gian dài", ông khuyến cáo.

Lời khuyên từ chuyên gia: Cần thay đổi về chất

Thực tế, không chỉ nhà đầu tư nước ngoài thất bại mới nghĩ đến lời khuyến cáo trên. Ở TP.HCM, siêu thị Hà Nội ở quận Phú Nhuận, siêu thị Satramart ở quận Tân Bình, Fivimart siêu thị ở quận 7… đóng cửa mà chưa thể lý giải do phong cách phục vụ không phù hợp với người tiêu dùng, hay lựa chọn vị trí không đúng.
Luôn quảng cáo “giá rẻ, giá tốt nhất”, đủ mọi cách chăm sóc khách hàng, nhưng thành công hay thất bại, nhà đầu tư có khi khó lường trước. Trước nhiều thông tin siêu thị lấn lướt chợ, nhưng thực tế cũng không ít siêu thị phải đóng cửa.
Thành, bại khó lường
Nhìn qua lịch sử phát triển của tập đoàn Dairy Farm (Hong Kong, thuộc tập đoàn Jardine Matheson) dưới các thương hiệu nổi tiếng tại các nước như siêu thị Wellcome, Cold Storage, Giant, Lucky, Rustan’s and Shopwise, đại siêu thị Giant và Shopwise..., thật khó nghĩ Dairy Farm sẽ khó khăn ở thị trường Việt Nam.
Năm 2007, Dairy Farm thông qua công ty con là Giant South Asia Việt Nam đã thuê lại các siêu thị Citimart của công ty Đông Hưng để thâm nhập thị trường Việt Nam bằng thương hiệu siêu thị Wellcome.
Đến cuối năm 2011, Dairy Farm tiếp tục khai trương đại siêu thị Giant đầu tiên tại Việt Nam, tiếp theo là chuỗi cửa hàng chăm sóc sức khoẻ và sắc đẹp Guardian, người ta tưởng Dair Farm củng cố thêm nền tảng tại Việt Nam.
Thế nhưng, vừa kết thúc hợp đồng năm năm với công ty Đông Hưng, Giant South Asia Việt Nam đã trả lại toàn bộ mặt bằng và chấm dứt hoạt động của hệ thống siêu thị Wellcome tại Việt Nam.
Thực tế, không chỉ nhà đầu tư nước ngoài thất bại mới nghĩ đến lời khuyến cáo trên. Ở TP.HCM, siêu thị Hà Nội ở quận Phú Nhuận, siêu thị Satramart ở quận Tân Bình, Fivimart siêu thị ở quận 7… đóng cửa mà chưa thể lý giải do phong cách phục vụ không phù hợp với người tiêu dùng, hay lựa chọn vị trí không đúng.
Sử dụng kiến thức, sự hiểu biết về thói quen chi tiêu và mua hàng của khách hàng địa phương để điều chỉnh dịch vụ cho phù hợp, trước quyết định đầu tư là khuyến cáo được nhiều chuyên gia đề cập. Chẳng hạn, người dùng Việt Nam vẫn thích “cá đang bơi” làm tại chỗ hơn là cá làm sẵn để đông lạnh...
Giá rẻ chưa đủ
Cạnh tranh nhau, những thông tin về chương trình khuyến mãi, những mặt hàng đang có giá rẻ hầu như đều được từng hệ thống siêu thị đưa lên trang thông tin điện tử của mình và in thành tờ rơi phát đến tận tay khách hàng.
Trong từng thời điểm, người tiêu dùng dễ dàng so sánh giá cả để chọn đi siêu thị nào. Thêm ngành hàng, thêm dịch vụ để thu hút mọi đối tượng khách là hướng đi của các siêu thị, đại siêu thị...
Thế nhưng ngoài giá, sự chọn lựa của người tiêu dùng còn dựa vào những tiêu chuẩn khác.
Muốn mở đại siêu thị, cho dù ở tỉnh thành nào, các nhà đầu tư thường phải chọn vị trí mặt bằng ở ngoại thành. Với người tiêu dùng, dẫu biết giá có rẻ hơn, nhưng đi xa để mua sắm trong siêu thị hiện đại không bằng đi chợ gần nhà. Để thu hút khách hàng, Big C đã tổ chức xe đưa đón khách miễn phí đến siêu thị.
Cách làm này khá thành công trước đây, nhưng giờ ở TP.HCM hay Hà Nội, không chỉ Big C mà bất kỳ siêu thị nào cũng thấy những cửa hàng tiện lợi mọc lên ngày càng nhiều ở các khu dân cư làm mất đi một phần doanh thu của họ bởi người đi xe máy chẳng mất tiền gửi xe mà đến cửa hàng tiện lợi mua gần hơn, giá cũng tương đương siêu thị.
Ở nhiều siêu thị, người tiêu dùng vẫn thường xuyên thấy xuất hiện, rau hư, trái cây héo... chứng tỏ họ vẫn chưa quản trị tốt, cũng như chưa tổ chức được nguồn hàng tốt từ đầu nguồn sản xuất...

Vì sao GM lại tăng cường đầu tư tại ASEAN?

Để phục vụ nhu cầu của khách hàng trong khu vực ASEAN theo ý đồ chiến lược sản xuất tại nơi bán và thiết lập nguồn cung cấp tại địa phương dưới dạng nội địa hóa, năm nay GM đang mua một lượng phụ tùng xe hơi trị giá tới 2 tỉ USD từ các nhà cung cấp trong khu vực Đông Nam Á, nhiều hơn hẳn so với con số 300 triệu USD cách đây ba năm. Với mức tăng trưởng gấp bảy lần, GM đang thể hiện rõ sự cam kết đầu tư lâu dài và chắc chắn trong khu vực này.
Cơ hội mới từ các thị trường nhỏ
“Đối với toàn bộ khối ASEAN, chúng tôi nhìn thấy một sự tăng trưởng mạnh và những cơ hội lớn. Chiến lược bao trùm của GM là sản xuất tại nơi bán và thiết lập nguồn cung cấp tại nơi sản xuất” – ông Martin Apfel, Chủ tịch của GM khu vực Đông Nam Á đã tiết lộ như vậy về ý đồ hiện nay của tập đoàn này.
Trước mắt, GM đang tập trung thiết lập mạng lưới các đại lý bán hàng tại ASEAN, trong đó có những đại lý tại hai thị trường mới nổi là Campuchia và Lào.
Đầu năm 2013, thương hiệu Chevrolet đã chỉ định United Auto Trading – một trong những nhà nhập khẩu và phân phối xe hơi lớn nhất của Campuchia làm nhà phân phối chính thức xe hơi, phụ tùng và cung cấp các dịch vụ hậu mãi. Một nhà xưởng và phòng trưng bày với diện tích hơn 2.000m2 đã được GM khai trương giữa tháng 2 vừa qua ở thủ đô Phnôm Pênh.
Các nhà quản trị của GM cũng tin tưởng rằng thị trường xe hơi tại Campuchia còn tiếp tục phát triển với tốc độ khá ấn tượng, khoảng 10 – 15%/năm và 1/3 trong số đó là xe bán tải (pick-up) cỡ trung bình.
Tâm lý của nhiều hộ dân Campuchia là muốn sắm một chiếc xe dành cho cả mục đích kinh doanh lẫn sử dụng cá nhân, vậy mục tiêu chiến lược của GM là tạo ra những chiếc xe đúng với nhu cầu của họ và có chế độ bảo hành, bảo trì tốt nhất bằng phụ tùng chính hãng.
Chevrolet Colorado – chiếc bán tải mà GM đã bán tại Việt Nam từ vài tháng trước xem ra rất phù hợp với thị trường Campuchia, nơi GM đang mong đợi đến cuối năm nay nâng được thị phần lên tới 10%.
Điều này hoàn toàn có cơ sở khi nền kinh tế Campuchia đang có những điều kiện phát triển thuận lợi và tầng lớp trung lưu tại nước này đang gia tăng. Bên cạnh đó, GM sẽ mở đại lý đầu tiên tại Lào vào cuối năm nay.
Tại Thái Lan, Chevrolet dự tính đến cuối năm nay phải có ít nhất 120 đại lý, tức là tăng tới 29% số đại lý so với năm ngoái.
Để phục vụ nhu cầu của khách hàng trong khu vực ASEAN theo ý đồ chiến lược sản xuất tại nơi bán và thiết lập nguồn cung cấp tại địa phương dưới dạng nội địa hóa, năm nay GM đang mua một lượng phụ tùng xe hơi trị giá tới 2 tỉ USD từ các nhà cung cấp trong khu vực Đông Nam Á, nhiều hơn hẳn so với con số 300 triệu USD cách đây ba năm. Với mức tăng trưởng gấp bảy lần, GM đang thể hiện rõ sự cam kết đầu tư lâu dài và chắc chắn trong khu vực này.
Trung tâm chiến lược của GM ở Đông Nam Á
Trong việc thực hiện ý đồ chiến lược nói trên, GM xác định vẫn tiếp tục sử dụng Thái Lan và Indonesia là hai cơ sở sản xuất chính.
Tháng 5 vừa qua, GM đã khai trương một nhà máy trị giá 50 triệu USD ở Bekasi, cách thủ đô Jakarta khoảng 16km, sử dụng 700 công nhân. Sản phẩm chính của nhà máy này là Chevrolet Spin – chiếc xe đa dụng MPV bảy chỗ từng được sản xuất trước tiên tại Brazil với công suất khoảng 40.000 chiếc/năm.
Indonesia là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất của GM. Năm ngoái, doanh số của GM đã tăng tới 17% tại quốc gia Hồi giáo này so với năm 2011.
Việc xây dựng và đưa nhà máy mới vào hoạt động như một hành động cụ thể nhằm khẳng định niềm tin của GM là có thể sản xuất xe hơi cũng như thiết lập mạng lưới các nhà cung cấp tại chính nơi tiêu thụ. Theo dự kiến, sẽ có khoảng 80% lượng xe Spin từ nhà máy Bekasi được bán tại Indonesia, phần còn lại sẽ được xuất khẩu sang Thái Lan và Philippines.
Trong quý I/2013, GM đã bán được tổng cộng 21.899 chiếc Chevrolet tại thị trường ASEAN, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái. Đánh giá rằng nền kinh tế khu vực còn tiếp tục bùng nổ và thu nhập của người dân ngày càng tăng, GM hy vọng sẽ bán được nhiều xe hơn trong năm nay.
Tập đoàn xe hơi Mỹ ấy cũng đang thể hiện những cam kết trong việc đóng góp cho nền kinh tế khu vực ASEAN thông qua ngành công nghiệp xe hơi. Tuy nhiên, cũng có những lo ngại nhất định trước những thách thức to lớn là an ninh năng lượng chưa đảm bảo, giá nhiên liệu tăng cao, giáo dục và đào tạo chưa nâng được chất lượng nguồn nhân lực và những thay đổi về chính sách trong khu vực, nhất là những quyết định liên quan đến lộ trình miễn giảm thuế, thủ tục hải quan…
Đánh giá tình hình thị trường ở góc độ rộng hơn, ông Apfel cho rằng những căng thẳng liên quan đến tranh chấp lãnh hải giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã có tác động tích cực tới doanh số bán hàng của GM. Nguyên nhân đơn giản là khách hàng Trung Quốc chuyển sang chọn mua các loại hàng hóa Mỹ để thay thế hàng Nhật.
Mặc dù chậm chân hơn các tập đoàn và công ty xe hơi khác nhưng GM đã tỏ rõ quyết tâm và nỗ lực củng cố chỗ đứng tại khu vực ASEAN – một thị trường xe hơi tiềm năng – bằng những khoản đầu tư xứng đáng.

Chia sẻ cùng bạn về thị trường phục vụ trẻ em: Miếng bánh 5 tỷ đô

Nhìn chung, nhiều ngành hàng và dịch vụ cho trẻ khó có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ. Cụ thể ở lĩnh vực trò chơi trẻ em, theo số liệu thống kê không chính thức, doanh nghiệp Trung Quốc chiếm thị phần hơn 80%. Chủ một đại lý bán đồ chơi trên đường Hai Bà Trưng (TP.HCM) cho biết tỷ lệ hàng Việt Nam mà cửa hàng này phân phối chỉ chiếm khoảng 10%. Lý do mà chủ cửa hàng này đưa ra là mẫu mã đồ chơi trong nước quá đơn điệu, giá lại đắt hơn hàng nhập khẩu.
Tổng dung lượng thị trường cho trẻ em bao gồm hàng hóa, dịch vụ giáo dục, y tế, giải trí ước tính lên đến 5,2 tỷ đô la Mỹ/năm. Đây là kết quả nghiên cứu mà công ty cổ phần thương mại dịch vụ Nkind vừa công bố. Nhưng trên thực tế, các DN trong nước chưa khai thác hết tiềm năng mà mảng thị trường này có thể mang lại.
Những con số đáng quan tâm(*)
Theo ông Thomas. J Ngo, Tổng giám đốc Nkink, Việt Nam hiện có khoảng 20,8 triệu trẻ em độ tuổi từ 0-12. Đây là phân khúc tiêu dùng đầy tiềm năng mà các doanh nghiệp chưa khai thác hết.
Trên 20 triệu trẻ em tạo nên một thị trường tiêu dùng đầy tiềm năng mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác được mấy
Thị trường này chia làm ba nhóm chính: (1) giáo dục, (2) y tế và (3) nhóm tất cả các sản phẩm và dịch vụ khác (dành cho trẻ 0-12 tuổi). Nhóm (3) chiếm khoảng 3,1 tỉ đô la Mỹ/năm, trong đó, chỉ riêng các sản phẩm sữa và thực phẩm dinh dưỡng đã chiếm đến 1,2 tỉ đo la Mỹ/năm; các sản phẩm khác bao gồm đồ chơi, quần áo, tã lót, mũ nó... chiếm khoảng 1,1 tỉ đô la Mỹ; dịch vụ vui chợi giải trí cho bé cũng lên đến 700 triệu đô la Mỹ/năm. Tính trung bình trong cả nước, mỗi phụ huynh chi tiêu cho một trẻ khoảng 500.000 đồng/tháng. Riêng ở TP.HCM, mức này cao gấp ba lần, khoảng 1,5 triệu đồng/tháng.
Một nghiên cứu gần dây liên quan dến các mặt hàng dành cho trẻ em của Công ty Nghiên cứu thị trường FTA cũng đưa ra nhiều phân tích thú vị, trong đó, nhóm ra quyết định mua sản phẩn cho trẻ em là nhóm phụ nữ trung niên, độ tuổi từ 30-55. Theo ông Trần Ngọc Dũng, Giám đốc điều hành FTA, đây là nhóm tuổi khá năng động với 40% đi làm và có công việc kinh doanh riêng. Mức thu nhập trung bình của nhóm phụ nữ độc lập về tài chính này là trên 20 triệu đồng/tháng, chủ yếu là từ lợi nhuận của công việc kinh doanh.
Ông Dũng lưu ý các nhà sản xuất cần có chiến lược thị trường sản phẩm dành cho trẻ em thông qua những bà mẹ. Ông nhận xét: "Các bà mẹ thường kết hợp mua sắm cho bản thân và gia đình khi đi mua sắm cho con cái họ. Có lẽ vì vậy mà địa điểm mua sắm cho trẻ chủ yếu là ở chợ và siêu thị, các cửa hàng thời trang chuyên bán hàng cho bé, mẹ và bé.
Riêng ở lĩnh vực thời trang trẻ em, chi phí trung bình cho một bộ đồ của bé không quá 200.000 đồng. Các bà mẹ thường lựa chọn các bộ quần áo có giá dưới 100.000-200.000 đồng cho bé từ 1-3 tuổi. Chi phí một lần đi mua sắm cho bé thường khoảng từ 1-2 triệu đồng, đặc biệt là cho bé dưới 6 tháng tuổi.
Nhóm sản phẩm đồ chơi cho trẻ em nhiều năm nay bị đồ chơi nhập khẩu áp đảo. Tuy nhiên, theo FTA, đồ chơi có xuất xứ trong nước rất được các bà mẹ quan tâm. Có đến 52% bà mẹ được hỏi cho biết họ ưu tiên chọn đồ chơi sản xuất trong nước. Đây là cơ hội tốt cho các công ty trong nước.
Có chút chênh lệch với số liệu của Nkind, FTA cho rằng các bà mẹ ở hai thành phố lớn là TP.HCM và Hà Nội chỉ trung bình 2 triệu đồng/tháng/trẻ.
Khó cạnh tranh với hàng nhập giá rẻ
Nhìn chung, nhiều ngành hàng và dịch vụ cho trẻ khó có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ. Cụ thể ở lĩnh vực trò chơi trẻ em, theo số liệu thống kê không chính thức, doanh nghiệp Trung Quốc chiếm thị phần hơn 80%. Chủ một đại lý bán đồ chơi trên đường Hai Bà Trưng (TP.HCM) cho biết tỷ lệ hàng Việt Nam mà cửa hàng này phân phối chỉ chiếm khoảng 10%. Lý do mà chủ cửa hàng này đưa ra là mẫu mã đồ chơi trong nước quá đơn điệu, giá lại đắt hơn hàng nhập khẩu.
Để có một dây chuyền sản xuất đồ chơi hoàn chỉnh đạt chất lượng và đảm bảo an toàn cho trẻ, doanh nghiệp trong nước phải đầu tư ít nhất 1 triệu đô la Mỹ. Ngay cả khi chấp nhận đầu tư, doanh nghiệp cũng khó lòng cạnh tranh với các thương hiệu đồ chơi nhập khẩu đã quen thuộc trên thị trường. Chưa kể chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm để liên tục đưa ra thị trường những mẫu mã mới cũng là rào cản đối với các nhà sản xuất.
Tập trung vào thị trường ngách
Để khai thác thành công thị trường dành cho trẻ em, theo ông Thomas. J Ngo, doanh nghiệp đi sau cần tìm những thị trường ngách mà các sản phẩm nhập khẩu cũng như các công ty nước ngoài chưa nắm giữ.
Ông Ngo cho rằng một trong những thị trường ngách quan trọng là mảng dịch vụ. Đầu tư vào các dịch vụ phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí mang tính giáo dục mà cách là công ty Nlink đang thực hiện khá thành công ở Việt Nam thông qua hệ thống Trung tâm Giáo dục Thiếu nhi TiNiWorld. Hơn hai năm qua, Nkind đã đầu tư gần 4 triệu đô la Mỹ để xây dựng hơn 15 trung tâm trên cả nước. "Riêng mảng dịch vụ vui chơi giải trí có mức tăng trưởng trên 200%/năm. Đây là mảng thị phần còn nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp khai thác", ông Ngo nói.
Ngoài phát triển các dịch vụ vui chơi, giải trí lành mạnh cho các em, việc khai thác những dịch vụ giáo dục, y tế phục vụ trẻ em, các sản phẩm thiết yếu khác dành cho mẹ và bé cũng là những gợi ý đáng suy nghĩ cho doanh nghiệp trong nước trong bối cảnh ngành kinh doanh đã bão hòa. Nhiều doanh nghiệp sau khi phá sản đang bắt đầu khởi nghiệp trở lại từ những thị trường "nghách" dành cho trẻ em.
Các nhà nghiên cứu thị trường cho rằng với quy mô thị trường hơn 5 tỉ đô la Mỹ/năm, cơ hội thành công là không nhỏ nếu doanh nghiệp có bước đi phù hợp.

Tìm câu trả lời cho câu hỏi: Masan có cam chịu "hít khói" Acecook?

Acecook - doanh nghiệp 100% vốn Nhật Bản - đang thống trị với thị phần năm 2012 vào khoảng 51,5% và đều chiếm hơn nửa thị phần từ năm 2008 đến nay. Từ năm 2008, Acecook đã đạt doanh thu hơn 4.000 tỷ trong khi đến 2011, Masan và Acecook mới cán ngưỡng 2.000 tỷ. Cũng theo thống kê của Euromonitor thì cả 3 nhãn hiệu của Acecook là Hảo Hảo, Vina Acecook và Hảo 100 cũng là 3 nhãn hiệu lớn nhất thị trường, với khoảng 49,3% thị phần
Theo thống kê của Euromonitor, chỉ trong vòng 4 năm từ 2008-2012, sản lượng tiêu thụ mì ăn liền của Việt Nam tăng 37% lên trên 400 nghìn tấn còn doanh thu tăng gần gấp đôi lên trên 20.000 tỷ đồng.
Trong khi thị phần của Acecook hầu nhưng không đổi thì thị phần của Masan tăng mạnh mẽ
Mảnh đất màu mỡ

Việt Nam có nhiều doanh nhân đã từng thành công vang dội với mì ăn liền ở Đông Âu như Nguyễn Đăng Quang, Phạm Nhật Vương hay Đặng Khắc Vỹ. Tuy nhiên, chỉ có các ông chủ của Masan Group (Nguyễn Đăng Quang, Hồ Hùng Anh) là tiếp tục đầu tư mạnh cho lĩnh vực đầy hấp dẫn này ở quê nhà.

Theo thống kê của Euromonitor, chỉ trong vòng 4 năm từ 2008-2012, sản lượng tiêu thụ mì ăn liền của Việt Nam tăng 37% lên trên 400 nghìn tấn còn doanh thu tăng gần gấp đôi lên trên 20.000 tỷ đồng.
Theo thống kê của hiệp hội mì ăn liền thế giới, tiêu thụ mì ăn liền năm 2012 của Việt Nam ở mức 5,06 tỷ gói, đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản.

Acecook - doanh nghiệp 100% vốn Nhật Bản - đang thống trị với thị phần năm 2012 vào khoảng 51,5% và đều chiếm hơn nửa thị phần từ năm 2008 đến nay. Từ năm 2008, Acecook đã đạt doanh thu hơn 4.000 tỷ trong khi đến 2011, Masan và Acecook mới cán ngưỡng 2.000 tỷ.

Cũng theo thống kê của Euromonitor thì cả 3 nhãn hiệu của Acecook là Hảo Hảo, Vina Acecook và Hảo 100 cũng là 3 nhãn hiệu lớn nhất thị trường, với khoảng 49,3% thị phần.

Masan nhảy vào chiếu trên


Trong số các ông lớn đã hoạt động lâu năm, Masan là một doanh nghiệp “non trẻ” khi mới xuất hiện từ năm 2007 với thương hiệu Omachi. Năm 2008, theo như số liệu của Euromonitor, Masan chiếm được 1,6% thị phần.

Một năm sau, Masan khiến thị trường mì kinh sợ khi nhảy vọt lên chiếu trên với 10% thị phần, vượt qua hàng loạt tên tuổi lão làng khác, hình thành nên thế chân vạc ở thị trường mì ăn liền gồm Acecook – Asia Foods – Masan Food.

Sau bước đại nhảy vọt đó, thị phần của Masan ngày càng được củng cố, nhiều thương hiệu ở các phân khúc khác nhau cũng được tung ra. Thị phần đến năm 2012 là 16,5%, bỏ xa công ty đứng thứ 3 là Asia Foods với 12,1% thị phần.
Tuy nhiên, theo công bố trong báo cáo thường niên năm 2012 của Masan Consumer dẫn theo số liệu A&C Nielsen thì thị phần của công ty cuối năm 2012 đã lên đến 21%. Con số này có phần hợp lý hơn nếu so với mức tăng trưởng doanh số lên đến 70% trong năm 2012.

Việc tung ra sản phẩm mì ăn liền Kokomi ở phân khúc thấp cấp đã góp phần đáng kể vào việc đưa doanh thu mì ăn liền tăng từ mức 2.000 tỷ năm 2011 lên 3.400 tỷ đồng. Đây là một bước đi khôn ngoan sau khi công ty đã thống trị phân khúc mì ăn liền cao cấp với sản phẩm mì Omachi.

Đến năm 2012, theo Euromonitor, Omachi chiếm 8% thị phần và Tiến Vua, sản phẩm ở phân khúc trung cấp, chiếm 5,7% thị phần còn Kokomi chiếm 1,9% thị phần.

Xưa nay các lĩnh vực mà công ty đã tham gia thì đều không cam chịu ở vị trí số 2 nhưng ở lĩnh vực này thì khoảng cách với Acecook là quá lớn, trong suốt quá trình tăng trưởng của Masan, thị phần của Acecook hầu như không đổi.
Tuy vậy thì bên cạnh việc tăng trưởng thông qua M&A, Masan chắc chắn vẫn kì vọng lớn vào mì ăn liền khi mà trụ cột quan trọng nhất là nước chấm chiếm đến ¾ thị phần (nước mắm & nước tương).

Không công bố con số cụ thể nhưng Masan đã công bố cuối Q1/2013 “tiếp tục giành thêm thị phần trong ngành hàng mì ăn liền nhờ tăng trưởng mạnh mẽ từ nhãn hàng Kokomi dành cho phân khúc bình dân”.

Masan hiện vẫn bỏ ngỏ phân khúc sản phẩm gạo (bún, phở…) hay miến ăn liền. Tiềm năng tăng trưởng của các sản phẩm này vẫn rất lớn và các doanh nghiệp khác trong thị trường đang gia sức củng cố phân khúc này.

Cùng tìm hiểu về số phận lận đận của "ông lớn" Pepsi Việt Nam

Trong khi nghi án vẫn chưa có lời giải đáp, vào ngày 23/10/2012, Pepsi bất ngờ khi công bố sẽ bán cổ phần của công ty Pepsi Việt Nam cho công ty Suntory Holdings Ltd., một công ty đồ uống và thực phẩm dinh dưỡng tại Nhật Bản, để cả hai cùng hợp tác nguồn lực mở rộng thị trường đang tăng trưởng nhanh này.
Sau khi hất cẳng vốn Việt để trở thành công ty 100% vốn nước ngoài, Pepsico Việt Nam đã bị người Nhật thâu tóm khi phải bán tới 51% cổ phần cho Suntory.
Việt Nam đã hết vốn tại Pepsi
Hất cẳng vốn Việt
Pepsi Việt Nam là một trong các công ty giải khát có vốn nước ngoài đầu tiên đặt chân tới Việt Nam. Cũng như nhiều công ty khác, muốn hoạt động tại Việt Nam, Pepsi phải hoạt động dưới danh nghĩa liên doanh. Ngày 24/12/1991, Công ty Nước giải khát Quốc tế (IBC) được thành lập do liên doanh giữa SP.Co và Marcondray-Singapore với tỷ lệ vốn góp 50% - 50%.
Đến tháng 7/2003, Công ty Thương mại và Du lịch Sài Gòn (SpCo), đã quyết định bán toàn bộ cổ phần trong Liên doanh nước giải khát quốc tế (IBC) cho công ty Pepsi. Theo đó Pepsi IBC đã chuyển từ loại hình liên doanh sang doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Số cổ phần trên trị giá 2,4 triệu USD, chiếm 3,44% tổng vốn pháp định của liên doanh Pepsi - IBC (70 triệu USD), đã được Pepsi mua lại với giá 4,8 triệu USD.
Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang cho biết khi vào Việt Nam, Pepsi phải tuân thủ Luật đầu tư. Luật đầu tư bắt buộc công ty nước ngoài phải liên kết với công ty Việt Nam. Và rất nhiều công ty “ngoại” biết chiêu trò, nhanh chóng vô hiệu hóa liên doanh. Thường chỉ sau vài năm, các liên doanh đều trở thành công ty nước ngoài 100%. Theo ông Quang, giai đoạn đó, có tới 2/3 liên doanh thua, còn lại 1/3 trụ được.
Tuy nhiên, IBC lại ở trong tình huống khác. Ông Quang cho biết, IBC thành lập dựa trên vận động công sức cá nhân, cổ đông cá nhân chứ không phải tài sản của Nhà nước. Sau một thời gian hợp tác, nhóm cổ đông bán lại cổ phần cho Pepsi để có lợi nhuận.
Nhóm cổ đông do ông Phạm Phú Ngọc Trai, tổng giám đốc IBC lãnh đạo đã hoạch định kế hoạch trước. Những người thiết lập đều biết đến lúc nào đó phải rút lui với giá cổ phiếu nâng cao để được lợi.
Ông Quang đánh giá đây là chiến lược đầu tư, chứ không phải bị thâu tóm. Đây là chiến lược có chủ động, không có gì mất mát như trường hợp Viso, P/S, bột giặt Phương Đông.
Chính vì có kế hoạch trước nên cuộc “ly hôn”, biến Pepsi trở thành công ty 100% vốn nước ngoài diễn ra êm thấm. Ông Trai trở thành Tổng Giám đốc Pepsi Việt Nam và có nhiều đóng góp lớn để thúc đẩy sự phát triển của công ty.
Bị công ty Nhật nuốt trôi
Là một ông lớn về nước giải khát tại Việt Nam nhưng con đường đi của Pepsi Việt Nam không hề dễ dàng vì công ty luôn phải đối mặt với “đối thủ truyền kiếp” là Coca Cola và đối thủ sinh sau đẻ muộn Tân Hiệp Phát.
Cuộc chiến khốc liệt này khiến các “ông lớn” ngành nước giải khát đều hao tiền, tốn của. Pepsi phải tham gia cuộc đua giảm giá, tăng chi phí cùng Coca Cola. Kết quả là cả hai cùng liên tục báo những khoản lỗ khủng trong thời gian dài.
Giống Coca Cola, kể từ khi thành lập cho tới năm 2007, Pepsi cũng liên tục báo lỗ. Tới năm 2006, công ty vẫn lỗ 122 tỷ đồng. Lỗ kéo dài từ năm 1991, nên trên bảng cân đối tài sản của Pepsi, lỗ lũy kế tính đến ngày 31/12/2010 là 1.206 tỷ đồng.
Năm 2007 là năm đầu tiên PepsiCo có lãi, với tổng thu nhập chịu thuế là 58 tỷ đồng. Nhưng vì vẫn được điều chỉnh chuyển lỗ, nên công ty chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Năm 2008, Pepsi lại lỗ 58 triệu đồng, sang năm 2009 lãi 141 tỷ đồng. Con số này của năm 2010 là 137 tỷ đồng, năm 2011 là 191 tỷ đồng. Tuy nhiên, do vẫn được điều chuyển lỗ, nên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty này đã nộp từ năm 2009 cho đến nay chỉ là 40,2 tỷ đồng.
Chính vì lỗ liên tục, cả Coca Cola và Pepsico đều phải đối mặt với nghi án chuyển giá. Tuy nhiên, cho tới nay, nghi án vẫn chỉ là nghi án.
Trong khi nghi án vẫn chưa có lời giải đáp, vào ngày 23/10/2012, Pepsi bất ngờ khi công bố sẽ bán cổ phần của công ty Pepsi Việt Nam cho công ty Suntory Holdings Ltd., một công ty đồ uống và thực phẩm dinh dưỡng tại Nhật Bản, để cả hai cùng hợp tác nguồn lực mở rộng thị trường đang tăng trưởng nhanh này.
Giá trị của bản hợp đồng không được tiết lộ nhưng có thể lên tới hàng trăm triệu USD vì đến nay, PepsiCo đã rót hơn 500 triệu USD vào Việt Nam với 5 nhà máy sản xuất đồ uống và thực phẩm.
Trong liên doanh này, Pepsi sẽ tiếp tục quản lý lĩnh vực tiếp thị và phát triển các sản phẩm chủ đạo, bao gồm những sản phẩm Pepsi-Cola, 7-UP, Sting, Mirinda, Tropicana Twister, Lipton và Aquafina. Trong khi đó, Suntory có kinh nghiệm phát triển các loại đồ uống phù hợp thị hiếu của người châu Á, cũng bổ sung thêm những đồ uống mang thương hiệu của mình.
Thương vụ hoàn tất trong năm 2012 nhưng phải tới ngày 4/4/2013, liên doanh mới giữa PepsiCo, Inc (PepsiCo) và Suntory Holdings Limited mới chính thức hoạt động. Khi đã nhận được phê duyệt từ các cơ quan thẩm quyền tại Việt Nam, liên doanh dự định có tên là Suntory PepsiCo Vietnam Beverage Company Ltd (SPVBC).
Tuy nhiên, Pepsi Vietnam bị đánh giá là đã rơi vào thế khó khi công ty này bước vào mảng thực phẩm với bánh snack Poca và sữa đậu nành Body Naturals. Năm 2008, công ty đã đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất thực phẩm đóng gói tại Bình Dương có vốn đầu tư 30 triệu USD để sản xuất bánh Poca.
Thế nhưng lĩnh vực thực phẩm của PepsiCo Vietnam chỉ có 2 thương hiệu là Poca và Body Naturals còn khá mờ nhạt và chưa thể cạnh tranh với Vinamilk hay Kinh Đô.
Hiện tại, liên doanh này mới chính thức hoạt động được hơn 2 tháng nên khó có thể đánh giá được hiệu quả của sự hợp tác kể trên.

Giới thiệu với bạn về du khách Việt Nam: Trong tầm ngắm 3,5 tỷ USD

"Thị trường Việt Nam chưa phải là thị trường lớn nhưng tiềm năng, tăng trưởng tốt. Chúng tôi muốn phát triển mảng du lịch y tế, phẫu thuật thẩm mỹ và hội nghị. Sau một số sự kiện quảng bá tại phía Bắc, từ nay đến hết năm 2013, du lịch Hàn Quốc sẽ tập trung các chương trình giới thiệu tại phía Nam. Văn phòng muốn giới thiệu sự kiện như Năm du lịch Bu-Ul-Gyeong do ba tỉnh Busan, Ulsan và Kyeongsangnam tổ chức; các lễ hội, triển lãm vùng duyên hải như Suncheon Bay Garden Expo; triển lãm y học dân tộc... với khách Việt Nam", ông Kang Sungghil nói.
Xúc tiến du lịch Malaysia tại TP.HCM
Hãng Tiger Airways mới đây đưa ra mức khuyến mãi mức giá siêu rẻ 88.000 đồng từ TP.HCM và 688.000 đồng từ Hà Nội áp dụng cho chặng bay Việt Nam - Singapore.
Giải thích cho đợt khuyến mãi đầy hấp dẫn này, theo ông Kaneswaran Avili, Giám đốc Thương mại Tiger Airways, Việt Nam đang là một trong 10 điểm đến tăng trưởng nhất của Tiger Airways, đặc biệt với các hành khách nối chuyến từ Úc đến Việt Nam. Vì thế, Tiger Airways tăng cường các chương trình thu hút khách du lịch Việt Nam trên các chuyến bay của Hãng.
Song hành cùng chương trình của Tiger Airways là chương trình "8 nét độc đáo mang bạn đến Singapore" của Tổng cục Du lịch Singapore (STB) triển khai tại Việt Nam. Theo bà Fiona Loi - Trưởng đại diện của STB tại Việt Nam, thống kê cho thấy số lượng người Việt đến Singapore đứng thứ 13 so với các quốc gia khác trên thế giới.
Để thu hút lượng khách du lịch tiềm năng từ Việt Nam, STB mới mở trang fanpage YourSingapore Vietnam để quảng bá đất nước Singapore. Trang web này cũng có mục đích nghiên cứu tâm lý du khách Việt Nam thích gì và cần gì khi đến Singapore.
Theo Hiệp hội Du lịch Việt Nam (VITA), năm 2012 có khoảng 3,5 triệu lượt người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, tăng 20% so với năm 2011. Ước tính số du khách này chi tiêu đến 3,5 tỷ USD hằng năm.
Ước tính mỗi năm có khoảng 1,1 triệu du khách trong nước sang Trung Quốc, 1 triệu lượt sang Campuchia, 500.000 lượt sang Thái Lan, 300.000 lượt sang Singapore, 200.000 lượt đến Malaysia, 110.000 sang Hàn Quốc, chưa kể số khách đến các điểm đến xa hơn như châu Âu, Mỹ.
Ông Kang Sungghil, Trưởng đại diện Văn phòng Tổng cục Du lịch Hàn Quốc tại Việt Nam, cho biết thông tin trong buổi giới thiệu điểm đến Hàn Quốc với khoảng 150 công ty du lịch tại TP.HCM: Năm tháng đầu năm 2013, khoảng 45.000 lượt khách Việt Nam đã sang Hàn Quốc du lịch.
3,5 tỷ USD
Năm 2012 có khoảng 3,5 triệu lượt người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, tăng 20% so với năm 2011. Ước tính số du khách này chi tiêu đến 3,5 tỷ USD hằng năm.
Ngành du lịch nước này thực hiện hàng loạt hoạt động quảng bá nhắm thu hút nhiều du khách Việt Nam sang Hàn Quốc du lịch kết hợp chữa bệnh, phẫu thuật thẩm mỹ và hội họp thay vì du lịch thuần túy. Vào năm ngoái, có khoảng 106.000 lượt khách Việt Nam sang Hàn Quốc du lịch.
Năm tháng đầu năm, số khách đã đạt đến 45.000 và dự kiến sẽ tăng cao hơn trong dịp hè này. Phần lớn du khách Việt Nam thường mua các tour du lịch thuần túy, đến các điểm du lịch ở Seoul, Busan, đảo Jeju. Trong thời gian tới, du lịch Hàn Quốc muốn du khách trải nghiệm thêm những sản phẩm du lịch khác của nước này.
"Thị trường Việt Nam chưa phải là thị trường lớn nhưng tiềm năng, tăng trưởng tốt. Chúng tôi muốn phát triển mảng du lịch y tế, phẫu thuật thẩm mỹ và hội nghị. Sau một số sự kiện quảng bá tại phía Bắc, từ nay đến hết năm 2013, du lịch Hàn Quốc sẽ tập trung các chương trình giới thiệu tại phía Nam. Văn phòng muốn giới thiệu sự kiện như Năm du lịch Bu-Ul-Gyeong do ba tỉnh Busan, Ulsan và Kyeongsangnam tổ chức; các lễ hội, triển lãm vùng duyên hải như Suncheon Bay Garden Expo; triển lãm y học dân tộc... với khách Việt Nam", ông Kang Sungghil nói.
Trước đó, tại TP.HCM, Cục Xúc tiến Du lịch Malaysia đã tổ chức chương trình roadshow quảng bá du lịch Malaysia năm 2014 với mục tiêu thu hút được 28 triệu lượt khách quốc tế.
Trong chuỗi hoạt động này, ngành du lịch Malaysia đã tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa doanh nghiệp du lịch hai nước, giới thiệu các điểm đến du lịch, chào bán các sản phẩm du lịch kích cầu Malaysia, giới thiệu các chính sách hỗ trợ du lịch của Chính phủ Malaysia dành cho đối tác Việt Nam.
Theo đó, một chương trình roadshow với quy mô lớn đã được tổ chức tại ba thành phố: Hà Nội, TP.HCM và Hội An (Quảng Nam), tập trung ở khách sạn Sheraton, Hà Nội; khách sạn New World, TP.HCM và tại khách sạn Hội An, Quảng Nam. Đặc biệt, tại Hội An, sự kiện được tổ chức kết hợp với chương trình tổ chức 5 năm di sản văn hóa tại địa phương.
Không chỉ những thị trường mới nhận ra "tiềm năng lớn" của khách du lịch Việt Nam, mà ngay cả Thái Lan, điểm đến du lịch hàng đầu của Việt Nam, vẫn không ngừng công tác quảng bá. Cách mà người Thái quảng bá rất khôn khéo khi tập trung vào kênh truyền thông từ Việt Nam.
Sau những "sự cố” về chính trị hay thiên tai gần đây, ngành du lịch Thái Lan luôn có động tác mời báo chí trên thế giới đến để quảng bá cho du lịch của nước mình. Bao giờ cũng vậy, các nhà báo quốc tế khi tham gia những chương trình này đều bị chinh phục vì chất lượng du lịch của Thái Lan vẫn rất tốt, các nhà báo quốc tế được đón tiếp niềm nở, tận tình và chu đáo để họ tác nghiệp.
Và dĩ nhiên sau những hoạt động như vậy, báo chí quốc tế lại tràn ngập thông tin tích cực về ngành du lịch của Thái Lan. Nhờ vậy, trong năm 2012 Thái Lan tiếp đón đến 14 triệu lượt khách quốc tế, trong đó có không ít khách Việt Nam.
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Thái Lan, từ khoảng 100.000 du khách Việt Nam du lịch Thái Lan vào năm 2007, đến năm 2012 tăng lên 500.000. Chỉ tiêu mà Tổng cục Du lịch đưa ra là đến năm 2015 sẽ thu hút được khoảng 1 triệu du khách Việt Nam sang du lịch Thái Lan. Đây là chỉ tiêu được xem cao nhất so với tất cả các thị trường khác, nhưng hoàn toàn nằm trong tầm tay của người Thái.

Chia sẻ với bạn về DaiABank - HDBank: Cuộc “hôn nhân” hạnh phúc?

Trước và sau đại hội lần một, một số cổ đông DaiABank cho biết có biểu hiện sự căng thẳng trong một số giao dịch chuyển nhượng có tính quyết định, chưa tìm được tiếng nói chung. Thậm chí trước đó có hoài nghi về năng lực tài chính của nhà đầu tư mới. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tiến độ dự tính tái cơ cấu của DaiABank kéo dài.
Sau đại hội đồng cổ đông thường niên 2013 lần hai ngày 15/6, một số vị trí quan trọng trong cơ cấu quản trị, kiểm soát và điều hành Ngân hàng Đại Á (DaiABank) đã thay đổi và bổ sung. Một tam giác quan hệ đã được thiết lập giữa ngân hàng này với Ngân hàng Phát triển Tp.HCM (HDBank) và Sovico Holdings.
Giao dịch tại HDBank và DaiABank
Đó là vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc DaiABank, cùng thành viên trong Ban kiểm soát đều từng là người của HDBank hoặc Sovico.
Với những thay đổi trên, cùng với kết quả đại hội lần hai, quá trình sáp nhập DaiABank với HDBank đã tiến thêm một bước quan trọng. Việc chính thức “về một nhà” có lẽ chỉ còn là thời gian và các bước kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
Có lúc căng thẳng…
Khả năng “hôn nhân” giữa hai ngân hàng này từng thu hút sự chú ý của thị trường hồi tháng 10/2012. Trước thềm sự kiện, dư luận nổi lên vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam; giới đầu tư bàn luận về những giao dịch thoái vốn của một số đầu mối; và có lẽ không phải ngẫu nhiên trong bối cảnh có một số xáo trộn gắn với một số cá nhân có tên tuổi trong ngành…
Tháng 10/2012, DaiABank và HDBank ký thỏa thuận ghi nhớ nguyên tắc hợp tác. Ít ngày sau đó, Ngân hàng Nhà nước có văn bản đồng ý về nguyên tắc hướng sáp nhập giữa hai bên. Cũng lưu ý rằng, đây là phương án tái cơ cấu tự nguyện, khác với diện bắt buộc, nên nó có thể đến đích hoặc không, gắn với quyền tự quyết.
Chính vì vậy, các cuộc đàm phán, thương lượng liên quan đến việc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư và cổ đông lớn kéo dài, thậm chí có lúc căng thẳng.
Ngay trước thềm đại hội đồng cổ đông thường niên 2013, các bên liên quan cùng lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng đã ngồi lại, song đại hội lần một không thành. Cho đến nay, nguyên nhân chính vẫn được xem xét ở cơ cấu chương trình đại hội, thiếu nội dung thay đổi, bổ sung nhân sự cao cấp mà một nhóm cổ đông lớn (và mới) mong muốn (?).
Trước và sau đại hội lần một, một số cổ đông DaiABank cho biết có biểu hiện sự căng thẳng trong một số giao dịch chuyển nhượng có tính quyết định, chưa tìm được tiếng nói chung. Thậm chí trước đó có hoài nghi về năng lực tài chính của nhà đầu tư mới. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tiến độ dự tính tái cơ cấu của DaiABank kéo dài.
“Hợp tác cùng lớn mạnh và phát triển là mong muốn chung. Nhưng lưu ý rằng đây là tự nguyện và DaiABank có vị thế của mình, chứ không bán hoặc sáp nhập bằng mọi giá”, một cổ đông và cũng là cán bộ của DaiABank nói, cũng như từng đề cập đến khả năng bóng dáng của một đối tác thứ ba.
Tiếng nói chung ở trên là về lợi ích. Trong khi đó, căng thẳng cũng một phần biểu hiện ở tâm lý một số cán bộ nhân viên ngân hàng này. Sau đại hội lần một, một cán bộ DaiABank cho biết, kế hoạch hợp tác với HDBank và thông tin có trên thị trường đang gây tâm lý nội bộ bất lợi nhất định. Họ lo ngại hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng, khách hàng có thể quan ngại.
Thêm nữa, giả sử “hôn nhân” thành công, cơ cấu lãnh đạo khi ghép hai cơ thể liệu có những điều chuyển ngoài mong muốn, khi mà ban điều hành thật khó để có quá nhiều thành viên, hay hai lãnh đạo ngang nhau trong một khối? Hay thu nhập của người lao động sẽ thay đổi như thế nào? Những câu hỏi này hoàn toàn khác với vị thế phải chấp nhận của một ngân hàng bị buộc phải sáp nhập, hay bị chỉ định sáp nhập.
Con đường tất yếu?
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2013 lần hai đã thành công. Ít ngày sau, một số vị trí chủ chốt đã có thay đổi. Mối quan hệ tam giác giữa DaiABank, HDBank và Sovico chính thức xác lập trước mắt công chúng.
Nhóm nhà đầu tư - cổ đông mới đã có được tỷ lệ sở hữu trên 50% để có thể thúc đẩy mục đích của mình. Có lẽ việc sáp nhập DaiABank với HDBank chỉ còn là thời gian, khi tiếng nói chung giữa các cổ đông lớn đã đạt được. Điều hướng tới là cuộc “hôn nhân” về sau có hạnh phúc hay không?
DaiABank là một ngân hàng nhỏ, quy mô vốn điều lệ 3.100 tỷ đồng, tổng tài sản tính đến cuối năm 2012 là 17.910 tỷ đồng, có 64 điểm giao dịch. Cùng chung bối cảnh của ngành, song năm qua ngân hàng này hoạt động khó khăn hơn khi lợi nhuận giảm mạnh so với năm trước (khoảng 50%) và nợ xấu ở mức khá cao (5,28%, tăng 473,91%).
Bên cạnh quy mô và sức cạnh tranh khiêm tốn, hoạt động kinh doanh bộc lộ khó khăn, thì một chi tiết điển hình cho nhu cầu hợp tác để lớn mạnh hơn ở ngân hàng này là cả năm 2012 chỉ tăng được duy nhất 1 điểm giao dịch.
Bắt tay với HDBank, họ sẽ cùng có quy mô của một “ông lớn” trong hệ thống. Giả sử sáp nhập thành công, ngân hàng sau đó sẽ có vốn điều lệ 8.100 tỷ đồng, tổng tài sản trên 70.000 tỷ đồng.
Và họ có một đối tác có kết quả kinh doanh khá ấn tượng trong năm 2012 (các chỉ tiêu kinh doanh của HDBank đều vượt kế hoạch, cùng các chỉ số tài chính cơ bản theo thông tin công bố khá tốt so với nhiều ngân hàng thương mại khác).
Hay như chi tiết mà một cán bộ DaiABank đề cập: tại Hà Nội, nếu sáp nhập sẽ có sự bổ trợ rất tốt về mạng lưới, khi các địa bàn quan trọng ngân hàng sẽ đủ sức phủ kín mà không bị đè lên nhau để phải loại trừ hoặc gom lại.
Tuy nhiên, một lãnh đạo của DaiABank nói rằng, dù là nhỏ nhưng ngân hàng ông có thế mạnh về quản trị và kiểm soát. Nhiều năm qua hoạt động ổn định, hiệu quả thậm chí có những năm còn hơn HDBank. Vì vậy, việc sáp nhập ở đây là hai nguồn lực cùng mạnh để tạo ra những lợi thế mới để có thể cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường.
Tuy nhiên, vị lãnh đạo này cho rằng hợp tác với một ngân hàng khác là con đường phát triển tất yếu. Vấn đề còn lại là hai bên có hạnh phúc không? Có nhiều yếu tố, nhưng sẽ tùy thuộc nhiều vào năng lực quản trị, lãnh đạo thực sự của cơ cấu nhân sự sau sáp nhập. Bởi cả hai đều từ một ngân hàng nhỏ và trung bình, “qua một đêm” trở thành một “ông lớn” và liệu có bị choáng ngợp và hụt sức với quy mô quản lý, điều hành đó hay không.
Dù có nhiều khó khăn, thử thách phía trước, nhưng đến nay tình huống sáp nhập DaiABank với HDBank đã gần ngã ngũ. Nhưng vẫn cần một điều kiện kỹ thuật quan trọng: hai bên sẽ phải tiếp tục tổ chức đại hội đồng cổ đông bất thường, và theo khoản 3, mục c Luật Các tổ chức tín dụng, phải có số cổ đông đại diện trên 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận thì mới được thông qua việc sáp nhập.