Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Cùng tìm hiểu việc TH Milk lỡ một nước cờ

Năm 2012, họ đã giới thiệu thêm ba sản phẩm mới loại 180ml là sữa tươi tiệt trùng bổ sung collagen; sữa tươi tiệt trùng bổ sung phytosterol; sữa tươi tiệt trùng bổ sung canxi. Tuy nhiên, việc chậm chân trong cuộc đua ở phân khúc sữa chua phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của TH.
Sau 3 năm có mặt trên thị trường, tới giờ này TH Milk vẫn chưa xuất hiện tại phân khúc sữa chua - một phân khúc được những người trong ngành cho là “miếng bánh lợi nhuận hấp dẫn”. 
Phi nước đại
Phải thừa nhận, các chuyên gia chiến lược thương hiệu của tập đoàn TH vô cùng giỏi trong việc tạo dựng câu chuyện hấp dẫn, gắn với sự ra đời của thương hiệu TH True MILK.
Chỉ sau 3 năm ngắn ngủi có mặt trên thị trường, thương hiệu này đã nhanh chóng làm cho người tiêu dùng choáng ngợp về mức độ thành công của họ (dù chưa có kiểm chứng), lấp đầy các trang báo mạng bằng những tít bài rất “sốc” (dù đôi khi có tác dụng ngược) và tấn công trực diện vào người khổng lồ Vinamilk (cuộc chiến truyền thông năm 2012).
TH giỏi ở chỗ biết chọn đúng thời điểm để truyền thông cho thương hiệu của mình, qua đó dẫn dắt người tiêu dùng đến thẳng các kệ sữa gắn mác TH True MILK trong siêu thị.
Những ai làm trong ngành đều biết, bản chất của ngành sữa trên thế giới là một ngành kinh doanh vận hành liên tục. Và chiếc bản lề mở ra cánh cửa thành công hay khép lại, chính là luồng tiền xoay chuyển không ngơi nghỉ, tiếng Anh gọi là “Money in, money out”.
Lấy ví dụ, với số lượng đàn bò của một công ty sữa khoảng 10.000 con thì công ty đó có thể chỉ cần đầu tư xây dựng một nhà máy công suất nhỏ. Khi công ty kinh doanh tốt và lợi nhuận khả quan thì họ sẽ dùng một phần để tái đầu tư nhằm tăng số lượng đàn bò lên gấp đôi.
Đến đây, câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp tục mở rộng nhà máy, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, máy móc, hệ thống bồn chứa, kho lạnh… để đáp ứng được sản lượng sữa gia tăng tương ứng.
Sự việc diễn ra hệt như vậy với TH. Chỉ sau ba năm ra đời, từ số lượng đàn bò vỏn vẹn hơn 1.000 con, đến nay công ty đã nâng lên mức khoảng 26.000 con. Trong số này chỉ có 13.000 con cho sữa, chiếm tỷ lệ 50%.
Tạm tính bình quân mỗi con bò cho khoảng 27 lít sữa/ngày trong điều kiện thời tiết ôn đới (mùa đông ở miền Bắc và miền Trung, tức là từ tháng 11 năm trước đến tháng 3-4 năm sau) thì lượng sữa của TH vào khoảng 351.000 lít sữa/ngày.
Vào mùa hè nóng nực mỗi con bò chỉ cho tối đa 20 lít sữa/ngày. Gặp trời nóng, bò có thể bị stress nhiệt, gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa. Về nguyên tắc, việc chăn nuôi bò sữa ở Nghệ An tạo ra thách thức lớn hơn nhiều cho chủ đầu tư so với những vùng có khí hậu thuận lợi hơn như Bảo Lộc hay Mộc Châu.
Theo tính toán, với diện tích một héc ta nuôi bò sữa tại Bảo Lộc có thể tạo ra mức doanh thu trung bình khoảng 100 triệu đồng/năm thì ở Nghệ An con số này chỉ vào khoảng 20 triệu đồng/năm.
Tuy nhiên, với một dự án có quy mô lớn như của TH Milk thì tất cả các bất lợi và nhược điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng… đều có thể khắc phục triệt để bằng công nghệ hiện đại. Đây chính là thế mạnh lớn mà TH Milk cần khai thác triệt để.
Dự án nhà máy sữa lớn mà tập đoàn này đầu tư ở Nghĩa Đàn, Nghệ An được khởi công ngày 14/5/2010 có hệ thống trang trại quy mô lớn nhất Đông Nam Á với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD. Toàn bộ dự án nằm trong vùng đất rộng 37.000 ha.
Theo thông tin đăng tải trên trang web chính thức của công ty, họ “áp dụng chu trình khép kín về sản xuất sữa tươi sạch theo công nghệ hiện đại nhất thế giới hiện nay”.
Cụ thể, đàn bò nhập khẩu từ những nước chăn nuôi bò sữa nổi tiếng thế giới như New Zealand, Mỹ, Úc… để đảm bảo bò cho ra loại sữa tốt nhất.
Hệ thống trang trại được áp dụng các tiêu chuẩn và quy cách chuồng trại chăn nuôi “tiên tiến nhất trên thế giới” (có mái che, gắn quạt mát, bò được nghe nhạc, tắm hàng ngày…).
Hệ thống vắt sữa ở đây hoàn toàn tự động và sữa vắt ra được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo quản ở điều kiện tốt nhất. Công nghệ tiệt trùng của nhà máy sữa TH cũng được công ty này giới thiệu là “hiện đại bậc nhất”.
Trên thực tế, khó có lý do nào để nghi ngờ về quy mô và mức độ hiện đại của nhà máy sữa TH. Nhưng nút thắt của TH lại nằm ở điểm này.
Nhưng có lỡ nước cờ?
Sau một thời gian vận hành nhất định, dây chuyền máy móc thiết bị của TH được khấu hao, số lượng đàn bò tăng và công ty có khả năng tối ưu hóa sản lượng sữa ngày càng tăng do đàn bò cung cấp.
Nếu xét về mặt hiệu quả kinh doanh, công ty này chắc chắn được hưởng lợi trong dài hạn. Mặt khác, mặc dù chi phí vốn đầu tư ban đầu bỏ ra rất lớn (1,2 tỷ USD như công bố của TH), song giá sữa mà TH bán ra thị trường sẽ giảm dần trong tương lai do các chi phí sản xuất cũng giảm dần vì nhà xưởng máy móc đã khấu hao, trong khi lượng sữa cung ứng cho thị trường sẽ tăng lên tương ứng với sự gia tăng đàn bò.
Vậy đâu là nút thắt?
Hãy tưởng tượng một con người đang trong giai đoạn trưởng thành, càng lớn càng cần hấp thụ nhiều thực phẩm hơn so với hồi bé, để phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. “Đứa trẻ” TH cũng cần được “cho ăn” liên tục, ngày càng nhiều hơn để không bị suy dinh dưỡng.
Do ngành sữa là ngành kinh doanh phát triển không ngừng nghỉ, cho nên vấn đề lớn nhất TH phải đối mặt chính là sự liên tục của dòng tiền. Nó chả khác nào dòng máu lưu thông trong cơ thể vậy.
Ở giai đoạn ban đầu với đàn bò quy mô nhỏ, vốn đầu tư cho hệ thống trang trại có thể chỉ cần vài trăm tỷ đồng. Nhưng khi đàn bò phát triển theo cấp số nhân, bắt buộc công ty phải mở rộng nhà máy ở quy mô tương ứng. Và đằng sau bao giờ cũng là câu hỏi đầu tiên: “Tiền đâu”?
Mức độ hiện đại hóa của dây chuyền sản xuất càng được nâng cao thì càng cần nhiều vốn. Cho nên nhiều người trong ngành hay nửa đùa nửa thật, đằng sau “Câu chuyện thật” (Slogan chính thức của TH True MILK) là nguồn “tiền thật” và ngay lập tức.
Những gì đang diễn ra tại TH cho thấy, tham vọng của họ là cực kỳ lớn. Khát vọng mãnh liệt là tốt, nhưng có lẽ ngay từ khi bắt đầu dự án này, các nhà quản trị của tập đoàn TH chưa hình dung hết sự khắc nghiệt của ngành sữa.
Không giống như trong lĩnh vực địa ốc, cứ vay vốn, xin đất rồi xây nhà lên bán đi là thu tiền về. Tốc độ thu hồi vốn của một công ty sữa lâu hơn nhiều, lại đòi hỏi tái đầu tư liên tục.
TH đặt mục tiêu nâng số lượng đàn bò lên đến 137.000 con vào năm 2017 trong khi hiện nay họ mới có 26.000 con. Có nghĩa là trong vòng 4 năm tới, TH phải tăng thêm tới 111.000 con. Tính trung bình mỗi năm phải tăng thêm 27.750 con.
Bài toán này tương đối khó giải với TH nếu nhìn tốc độ tăng trưởng bình quân của đàn bò tính từ khi dự án TH Milk ra đời năm 2010 đến nay.
Trong báo cáo “Khảo sát, đánh giá tình hình sản xuất và thị trường sữa năm 2012, dự báo năm 2013” của TS. Tống Xuân Chinh, Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về thị phần sữa nước, Vinamilk dẫn đầu với 40-50%, Dutch Lady 25%, Mộc Châu 10%, IDP 5%, Hanoimilk 5%, các công ty khác 15%.
Không thấy nhắc tới TH Milk, nhưng ước tính thị phần sữa nước của công ty này riêng ở phía Bắc là khoảng 30%.
Theo lời bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH vào ngày 8/3/2013, cho dù có khó khăn, vốn dự án chưa giải ngân được, TH vẫn có kế hoạch khai trương nhà máy sữa có công suất 600 tấn sữa/ngày thuộc giai đoạn 1 của cụm nhà máy mang tên “Mega Plant” có tổng công suất lên tới 1.700 tấn sữa/ngày.
Hiện tại, TH chỉ có duy nhất sữa nước (sữa tươi tiệt trùng) bao gồm nhiều dòng sản phẩm như sữa nguyên chất 180 ml, sữa ít đường 180 ml, sữa có đường 110 ml, sữa hương dâu 180 ml và sữa hương sô-cô-la 180 ml.
Năm 2012, họ đã giới thiệu thêm ba sản phẩm mới loại 180ml là sữa tươi tiệt trùng bổ sung collagen; sữa tươi tiệt trùng bổ sung phytosterol; sữa tươi tiệt trùng bổ sung canxi. Tuy nhiên, việc chậm chân trong cuộc đua ở phân khúc sữa chua phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của TH.
Nên nhớ, các tập đoàn sữa lớn trên thế giới như Danone đều có danh mục sản phẩm cực kỳ đa dạng chứ không chỉ riêng sữa. Và sữa chua là miếng bánh lợi nhuận cực kỳ hấp dẫn với các hãng sữa.
Vậy nên các công ty tại thị trường Việt Nam, từ Vinamilk, FrieslandCampina cho đến IDP (thương hiệu sữa tươi Ba Vì mới tung ra sản phẩm sữa tươi, sữa chua Love’in Farm), Mộc Châu đều đã có các sản phẩm sữa chua riêng của họ.
Mộc Châu còn có phô mai và IDP thì đã có sữa chua Love’in Farm từ đầu năm. Người khổng lồ Vinamilk thì có nhiều dòng sữa chua khác nhau.
Thị trường đang chờ xem TH đi lại nước cờ bị lỡ này như thế nào

Cận cảnh vụ việc Thế Giới Di Động: Hút thêm tiền, lo chuyện lớn

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia marketing, quyết định tập trung phát triển theo chiều sâu của TGDĐ là bước đi cẩn trọng, có tính toán và phù hợp với thị trường cũng như tình hình kinh doanh của Công ty. Bởi, thị trường ĐTDĐ, mảnh đất màu mỡ từng một thời giúp DN này hái ra tiền với tốc độ tăng trưởng trên 100%/năm đã... giậm chân tại chỗ.
Ông Nguyễn Đức Tài (giữa) giới thiệu cho các nhà đầu tư
Ngày 27/5, TGDĐ đã công bố hai nhà đầu tư mới là ông Robert Allen Willett, cựu CEO BestBuy Intenational và Công ty CDH Electric Bee Limited của Anh. Không tiết lộ số tiền đạt được trong thương vụ này, nhưng tỷ lệ mà hai nhà đầu tư mới này nắm giữ khoảng 20%, trong đó, phần thoái vốn của Mekong Capital là 6,7% và 13,3% từ các cổ đông sáng lập Công ty TGDĐ.
Ông Nguyễn Đức Tài, Tổng giám đốc Công ty TGDĐ, cho biết, CDH là quỹ đầu tư lớn và đã đầu tư vào nhiều doanh nghiệp (DN) bán lẻ điện máy và viễn thông ở châu Á. Với vốn đầu tư của mình, CDH sẽ có mặt trong HĐQT để tư vấn chiến lược và kết nối TGDĐ với các đối tác lớn trong khu vực.
TGDĐ cũng đã chỉ định ông Robert Willett giữ chức danh thành viên HĐQT độc lập, đóng góp chuyên môn cho các chiến lược phát triển của Công ty. "Đại diện của CDH không tham gia vào điều hành công ty. Với tỷ lệ còn lại, những người thành lập TGDĐ vẫn nắm quyền chi phối", ông Tài cho biết.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia marketing, quyết định tập trung phát triển theo chiều sâu của TGDĐ là bước đi cẩn trọng, có tính toán và phù hợp với thị trường cũng như tình hình kinh doanh của Công ty. Bởi, thị trường ĐTDĐ, mảnh đất màu mỡ từng một thời giúp DN này hái ra tiền với tốc độ tăng trưởng trên 100%/năm đã... giậm chân tại chỗ.
Cơ cấu sở hữu vốn của TGDĐ sau khi có nhà đầu tư mới:
- Nguyễn Đức Tài: 19%
- Trần Lê Quân: 14,83%
- Đinh Anh Huân: 6,12%
- Điêu Chính Hải Triều: 5,52%
- Trần Huy Thanh Tùng: 5,78%
- Mekong Capital: 25,8%
- Hai nhà đầu tư mới (Công CDH Electric Bee Limited và ông Robert Allen Willett): 20,41%
- Công ty CP TGDĐ: 1,45%
- Các nhà đầu tư nhỏ khác: 1,09%
Năm 2012, doanh thu của TGDĐ đạt 7.375 tỷ đồng và mục tiêu mà công ty này nhắm đến là 9.000 tỷ đồng.
Số liệu từ GfK Việt Nam, cho thấy, doanh số nhóm hàng ĐTDĐ tại Việt Nam năm 2012 đạt 30.224 tỷ đồng, đã giảm 5,9% so với năm 2011. Để giữ thị phần, tìm chỗ đứng trên thị trường, các nhà kinh doanh buộc phải kêu gọi vốn để mở rộng.
Trước TGDĐ, năm 2012, Viễn Thông A cũng đã bán một phần cho TD Mobile, nhà bán lẻ di động hàng đầu của Nhật. Sau khi có sự tham gia của đối tác này, Viễn Thông A xây dựng những trung tâm smartphone và liên tục tăng trưởng doanh số.
Đến nay, Viễn Thông A đã có 36 trung tâm smartphone với sự hợp tác của hầu hết các nhà sản xuất điện thoại lớn để phục vụ khách hàng. Năm 2012, với việc mở rộng quy mô, doanh thu của TGDĐ đã tăng thêm gần 2.000 tỷ đồng, tương ứng 37%, lên 7.375 tỷ đồng.
Con số này bỏ xa một số DN bán lẻ hàng điện tử, điện máy khác như Trần Anh (1.675 tỷ đồng), Viễn Thông A (1.610 tỷ đồng), hay FPT Retail (995 tỷ đồng)...
Đối thủ đáng kể của TGDĐ hiện nay là Nguyễn Kim (6.431 tỷ đồng). Vì thế, bán số lượng lớn cổ phần, theo nhận định chung, TGDĐ muốn củng cố vị trí số 1 trong thị trường bán lẻ điện tử đang cạnh tranh rất khốc liệt hiện nay.
"Sau khi có sự hợp tác từ hai nhà đầu tư mới, TGDĐ sẽ không mở rộng hệ thống mà tập trung vào phát triển chiều sâu. Trong đó, Công ty sẽ sắp xếp lại các cửa hàng để thu hút khách hàng nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Vì hiện tại, TGDĐ đã phủ rộng đến tất cả 63 tỉnh thành trong cả nước với hệ thống 218 cửa hàng. Số lượng như vậy là quá đủ cho nhu cầu người tiêu dùng", ông Tài cho biết. Trong khi thị trường ĐTDĐ sụt giảm thì doanh thu kinh doanh thiết bị di động của TGDĐ đã tăng 26,8%, đạt gần 4,2 tỷ đồng.
Theo dự báo của các chuyên gia, miếng bánh lớn nhất hiện nay của các nhà bán lẻ điện tử như TGDĐ sẽ là smartphone. Năm 2013, smartphone sẽ có sự phát triển vượt bậc, đạt khoảng 70% số lượng điện thoại bán ra trên toàn thị trường.
Vì thế, TGDĐ đặt kế hoạch sẽ tăng tỷ trọng smartphone bán ra lên đến 80% vào cuối năm nay. Ông Đoàn Văn Hiểu Em, Giám đốc Phát triển kinh doanh ngành hàng điện thoại TGDĐ, cho biết, trong tháng 3, DN này đã kết hợp với Samsung hình thành khu trải nghiệm sản phẩm với kinh phí đầu tư cả chục tỷ đồng.
Trước đó, TGDĐ áp dụng hàng loạt chương trình chăm sóc khách hàng mà chưa có hệ thống bán lẻ nào làm, như giảm giá, bán trả góp không thế chấp...

Chia sẻ tin vui với vật liệu xây dựng “hồi tỉnh” cùng bất động sản

Dầu vậy, có một thực tế cần sớm ý thức, ngay sau gói tín dụng 30.000 tỉ đồng được triển khai, là không có một phép màu cho thị trường BĐS sớm bật dậy. GS TS Đặng Hùng Võ khuyến nghị “không nên coi gói hỗ trợ như một liều thuốc chữa bách bệnh mà chỉ là giải pháp tài chính để tăng giao dịch cho khu vực tồn đọng. Chúng ta cũng đừng hi vọng gói hỗ trợ này sẽ mang tính đột phá cho thị trường”.
Từ chỗ “ngắc ngoải” do sự đóng băng của thị trường bất động sản (BĐS), những tin vui trên thị trường bất động sản Việt Nam, ít nhất ở phân khúc nhà ở xã hội, đã giúp các doanh nghiệp (DN) vật liệu xây dựng được “hà hơi thổi ngạt”…
Chầm chậm tỉnh...
Theo thống kê của Cục Quản lý kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), có tới 8.792 DN tạm ngừng kinh doanh trước đây đã quay lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2013. Trong đó, tỉ lệ lớn nhất thuộc về các DN hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, xe máy với 3.142 DN. Đứng thứ hai là DN xây dựng, với 1.475 DN. Ngành công nghiệp, chế tạo cũng có 1.309 DN sống lại. Con số này tương ứng với mức tiêu thụ đã tăng lên khả quan trong tháng 3, 4 của một số DN ngành thép, xi măng SMC, Xi măng Vicem Hoàng Thạch, TCT Xi măng VN, Vicem Cẩm Phả, ngoại trừ những DN đầu ngành vẫn tăng trưởng khá như Hoa Sen Group, Hòa Phát…
Lượng sản xuất và tiêu thụ xi măng quý 1/2012 - 2013 (Đvt: triệu tấn)
Tuy nhiên, nhìn trên bình diện dài hơi kể từ năm 2011 đến các năm tiếp theo, năng lực sản xuất của ngành vật liệu xây dựng nói chung vẫn vượt nhu cầu sử dụng trong nước từ 20 - 30%. Do đó, cung vượt cầu vẫn là bài toán khó giải đối với các DN, nếu thị trường BĐS trong nước không có một cú hích nào đáng kể để thay đổi trạng thái đóng băng.
Một điển hình của tình trạng cung vượt cầu do thiếu quy hoạch phát triển ngành là lĩnh vực xi măng. Theo thống kê, năng lực sản xuất của ngành xi măng là 68 triệu tấn/năm, trong khi đó, tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu chỉ là hơn 54 triệu tấn. Sau khi rà soát đánh giá lại xác định nhu cầu trong nước tới năm 2015 chỉ dừng ở mức 60 - 61 triệu tấn, xuất khẩu 10 triệu tấn, Bộ Xây dựng đã báo cáo và kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh “Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng VN giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030”.
Tuy nhiên, trong khi chờ hiệu quả từ quá trình triển khai Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng, cũng như chờ thị trường BĐS khởi sắc, đã có rất nhiều DN ngành xi măng trong giai đoạn 2011- đầu 2013 đã phải chọn hướng phá sản hoặc bán cho các DN ngoại. 20% DN đối mặt với nguy cơ phá sản tính đến năm 2013 - theo số liệu của ông Đỗ Đức Oanh - Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng VN - cho biết, cũng như đã có trên 10 thương vụ M&A trong ngành xi măng trong năm qua, có thể vẫn là cái giá phải trả quá nhỏ so với thực tế phát triển thiếu quy hoạch của ngành xi măng VN.
Cũng vì vậy, sự hồi tỉnh của DN ngành xi măng trong năm 2013, đăc biệt sau “hiệu ứng Nghị quyết 02”, theo các chuyên gia, sẽ chậm hơn so với các DN khác trong nhóm vật liệu xây dựng.
Tương tự xi măng, trụ cột của vật liệu xây dựng cơ bản – ngành thép - đã gặp những thách thức do sự đóng băng của thị trường BĐS và chỉ có tín hiệu hồi tỉnh nhờ “ăn theo” các tín hiệu vui qua quá trình triển khai Nghị quyết 02. Bản tin tháng 4/2013 của Hiệp hội Thép VN (VSA) cho biết, hết quý IV/2012, sản lượng sản xuất và sản lượng bán của thép xây dựng, của các DN thuộc VSA vẫn có mức suy giảm. Theo đó, sản lượng thép xây dựng tháng 4 giảm 2,62% so với tháng 3. Sản lượng thép xây dựng xây dựng bán cũng giảm 6,77% so với tháng trước. Đáng chú ý là nếu so với cùng kỳ, sản lượng thép bán giảm mạnh nhưng sản lượng sản xuất vẫn tăng. Điều đó cho thấy các DN bắt đầu lạc quan hơn về triển vọng thị trường so với năm 2012 và đã đẩy mạnh sản lượng sản xuất nhằm đón đầu sự sôi động trở lại của thị trường BĐS.
Không nên quá kỳ vọng
Trước mắt và cả về lâu dài, DN BĐS, VLXD sẽ phải “tự bơi” một mình trong tình trạng nợ đọng, hàng tồn kho và lệch pha cung cầu ở một số phân khúc.
Dầu vậy, có một thực tế cần sớm ý thức, ngay sau gói tín dụng 30.000 tỉ đồng được triển khai, là không có một phép màu cho thị trường BĐS sớm bật dậy. GS TS Đặng Hùng Võ khuyến nghị “không nên coi gói hỗ trợ như một liều thuốc chữa bách bệnh mà chỉ là giải pháp tài chính để tăng giao dịch cho khu vực tồn đọng. Chúng ta cũng đừng hi vọng gói hỗ trợ này sẽ mang tính đột phá cho thị trường”.
Ông Trương Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản VN (VNRea) cũng nhấn mạnh tại một diễn đàn vừa được tổ chức tại TP.HCM cuối tuần trước: “Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng là một cố gắng rất lớn của Chính phủ. Tuy nhiên, ở Nghị quyết 02, Thông tư 07, đặc biệt là Thông tư 11 của NHNN không cho biết sau 30.000 tỷ đồng hỗ trợ này có gì hơn/khác không. Theo ước tính từ phía DN gói 30.000 tỷ đồng này chỉ đủ hỗ trợ cho khoảng 30 DN. Trên thực tế DN chỉ được 30% còn lại 70% thuộc về khách hàng...”.
Mặc dù sự phân tích của ông Trương Anh Tuấn là để nhằm hướng đến đề xuất duy trì gói hỗ trợ tín dụng thường niên cho khối DN BĐS, tuy nhiên, vô hình trung cũng chỉ ra việc DN BĐS ngoài hưởng lợi gián tiếp từ lợi ích trực tiếp của khách hàng, thì sẽ không có được những chìa khóa trực tiếp để tháo gỡ khó không chỉ do hàng tồn kho của khối DN này. Trước mắt và cả về lâu dài, DN BĐS, vật liệu xây dựng sẽ phải “tự bơi” một mình trong tình trạng nợ đọng, hàng tồn kho và lệch pha cung cầu ở một số phân khúc.
Một cách không quá bi quan, cùng với sự hồi sinh của thị trường BĐS, ít nhất ở triển vọng phân khúc nhà ở xã hội, cùng với sự sống lại của một bộ phận DN vật liệu xây dựng, thì tại thời điểm hiện nay, việc thực Nghị quyết 02 cũng chỉ mới bước vào giai đoạn đầu tiên. Độ trễ của chính sách luôn khiến thị trường phải chờ đợi thêm ít nhất từ 3 đến 6 tháng. Cộng với sự hạn chế của nguồn lực và phạm vi hạn hẹp của các đối tượng được hỗ trợ, con đường khai phá ánh sáng cuối đường hầm của các DN BĐS lẫn DN ngành vật liệu xây dựng cũng đang rất hẹp. Chưa kể, chính sách giảm thuế để cứu các DN BĐS mà Chính phủ đề xuất liệu có được các ĐBQH thông qua hay không, còn là chuyện rất khó nói khi tại phiên thảo luận tổ thuộc khuôn khổ kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, nhiều ĐBQH đã kiến nghị xem xét lại chính sách này và không đồng thuận với các “kỹ thuật” chính sách nhằm cứu DN BĐS.
Theo đó, chuẩn bị cho một thực tế không có phép màu xảy ra, để tránh tình trạng “vừa hồi tỉnh” đã “chết lâm sàng” mà nhiều chuyên gia từng cảnh báo của DN vật liệu xây dựng, không loại trừ cả một số DN BĐS, là điều không thừa.

Chia sẻ câu chuyện: Tôm vào Mỹ gồng mình cõng thuế

Kết quả sơ bộ DOC đưa ra là một sự áp đặt bất công với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm Việt Nam. Các doanh nghiệp này đang hoạt động theo cơ chế thị trường, không nhận trợ cấp của nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không nhận được bất kỳ trợ cấp riêng biệt nào cho ngành tôm trong nhiều năm qua.
Do nguồn cung khan hiếm, giá tôm nguyên liệu trong nước gần 5 tháng qua luôn ở mức cao nhưng phần lớn các doanh nghiệp chế biến vẫn phải mua để trả nợ các hợp đồng đã ký và chịu lỗ bình quân 10.000 đồng/kg tôm. Mới đây, tôm Việt Nam lại bị Bộ Thương mại Hoa Kỳ đánh thuế trợ cấp giá khiến các doanh nghiệp xuất khẩu tôm đã khó càng thêm khó!
Công ty Minh Phú bị áp thuế chống bán phá giá 5,08%, Công ty Nha Trang Seafoods (7,05%) và mức thuế toàn quốc cho tất cả các công ty khác là 6,07%.
Ngày 29/5/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định sơ bộ vụ kiện chống trợ cấp tôm nước ấm từ Việt Nam. Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu tôm của Việt Nam đã được trợ cấp từ Chính phủ và quyết định áp mức thuế chống trợ cấp rất cao đối với các doanh nghiệp này. Cụ thể: Công ty Minh Phú 5,08%, Công ty Nha Trang Seafoods 7,05% và mức thuế toàn quốc cho tất cả các công ty khác là 6,07%.
Quyết định không công bằng
Đây là mức thuế rất cao đánh vào tôm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ từ trước đến nay và là loại thuế thứ 2 cùng áp cho sản phẩm này sau thuế chống bán phá giá. Phán quyết trên đã gây thiệt hại rất lớn cho các doanh nghiệp nuôi, chế biến và xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Dự kiến, DOC sẽ ra phán quyết cuối cùng về mức thuế chống trợ cấp này trước tháng 8/2013 và chính thức áp dụng vào tháng 8 năm nay.
Theo quy trình, sau khi DOC đưa ra kết quả sơ bộ mức thuế chống trợ cấp, trong tuần sau các bộ ban ngành, Chính phủ Việt Nam sẽ làm việc để kiểm chứng, xác thực kết quả rồi phản biện đối với phía Mỹ. Sau đó, Mỹ sẽ sử dụng kết quả đó để tính toán trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng về mức thuế chống trợ cấp đối với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, dựa trên mức thuế của Công ty Nha Trang Seafoods, DOC đã tính mức trợ giá đối với tôm nguyên liệu lên đến 5,5% là rất vô lý. Do điều tra chống trợ cấp nhắm đến các hình thức hỗ trợ của Chính phủ đối với sản phẩm nông nghiệp nên vai trò của Chính phủ trong việc tháo gỡ vấn đề là rất quan trọng.
Theo ông Hòe: “Chúng tôi đang chờ đợi các luật sư của VASEP tìm hiểu cách tính mà phía Mỹ đang áp dụng để từ đó có các phản biện thích hợp. Tôi khẳng định rằng, ngành tôm Việt Nam đã không được nhận bất cứ hình thức trợ cấp nào”.
VASEP cho rằng, vụ việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu, giao dịch mua bán vào Mỹ của các doanh nghiệp. Do nhà nhập khẩu phải nộp thêm khoản ký quỹ nên họ có thể tăng giá bán khiến người tiêu dùng không mua tôm nữa và như vậy, họ sẽ không nhập tôm Việt Nam.
Ngoài ra, phía nhà nhập khẩu lại hạ giá thu mua và doanh nghiệp Việt Nam có thể phải bán lỗ.
Phản đối kết quả sơ bộ của DOC
Trước quyết định sơ bộ vụ kiện chống trợ cấp tôm nước ấm từ Việt Nam của DOC, ngày 31/5/2013 VASEP cũng đã ra Thông cáo báo chí Phản đối kết quả sơ bộ vụ kiện chống trợ cấp đối với tôm đông lạnh Việt Nam tại thị trường Mỹ.
Kết quả sơ bộ DOC đưa ra là một sự áp đặt bất công với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm Việt Nam. Các doanh nghiệp này đang hoạt động theo cơ chế thị trường, không nhận trợ cấp của nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không nhận được bất kỳ trợ cấp riêng biệt nào cho ngành tôm trong nhiều năm qua.
Ngoài ra, kết quả sơ bộ cũng sẽ làm ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu vào Mỹ của các doanh nghiệp, tác động đến các giao dịch mua bán hiện nay cũng như tâm lý các nhà nhập khẩu tôm tại Mỹ.
Quyết định này cùng với việc đánh thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ là một quyết định không công bằng. Việc đánh hai loại thuế lên cùng một sản phẩm đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của hơn 600 ngàn nông dân, người làm chế biến và xuất khẩu tôm tại Việt Nam.
VASEP phản đối kết quả sơ bộ với mức thuế cao như trên của DOC đối với các doanh nghiệp tôm Việt Nam. Đồng thời yêu cầu DOC xem xét lại quyết định này và công tâm thẩm tra tại chỗ trong thời gian tới để công nhận ngành tôm Việt Nam không có trợ cấp trong quyết định kết quả cuối cùng của vụ kiện chống trợ cấp tôm của Việt Nam.
Mặc dù phải đương đầu với rất nhiều chiến dịch bảo hộ từ ngành tôm nội địa nhưng đến nay, tôm nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong nguồn cung tôm và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cao của thị trường Mỹ.
Nhiều năm trước, Mỹ luôn dẫn đầu về tiêu thụ tôm Việt Nam. Tuy nhiên, với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nguồn cung khác, Mỹ đã xuống vị trí thứ hai về nhập khẩu tôm của Việt Nam, sau Nhật Bản.
Năm 2012, dù xuất khẩu tôm liên tục giảm do nhiều yếu tố nhưng Mỹ vẫn duy trì vị trí thứ hai với giá trị cả năm ước đạt 480 triệu USD, chiếm hơn 20% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Năm 2013, do vấn đề Ethoxyquin tại thị trường Nhật Bản chưa được giải quyết nên Mỹ tiếp tục được xác định là thị trường quan trọng của tôm Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu tôm vào Mỹ đạt 132,7 triệu USD, chiếm 21,4% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.

Khám phá liên quan về Bầu Đức và con đường màu xanh

Dưới sự tư vấn của một hãng PR nổi tiếng thế giới, một loạt các nhà báo, công ty tư vấn và một số tổ chức phi chính phủ tại Indonesia đã đồng loạt ca ngợi sự trong sạch và có trách nhiệm của APP. Ấn tượng hơn, APP còn đầu tư cho việc quảng bá hình ảnh doanh nghiệp xanh trên CNN, Sky TV và rất nhiều kênh tin tức quốc tế khác.
Greenpeace từng làm video clip với nội dung nhai sôcôla Kit Kat nhưng cắn phải ngón tay đười ươi bê bết máu để cáo buộc Sina Mars Group. Global Witness cũng hoàn toàn có khả năng thực hiện mẫu truyền thông đáng sợ tương tự với Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) nếu họ muốn.
Vụ việc tổ chức phi chính phủ Global Witness (Nhân chứng Toàn cầu) cáo buộc HAGL chiếm đoạt đất đai, khai thác gỗ bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và cuộc sống của người dân nghèo tại Campuchia - Lào đã thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp cũng như dư luận cả trong lẫn ngoài nước.
Ngay lập tức, HAGL đã tổ chức trao đổi thông tin trực tiếp với báo giới trong nước và chủ động mời Global Witness sang đối chất tại hiện trường ở Lào - Campuchia. Chưa dừng lại ở đó, bầu Đức còn mời tổ chức kiểm định chất lượng Bureau Veritas của Pháp thẩm định để chứng nhận HAGL là doanh nghiệp thân thiện với môi trường.
Và thật tình cờ, báo chí Lào cũng đồng loạt đăng tải các bài viết ca ngợi HAGL ngay sau biến cố Global Witness. Báo Đất nước Lào của Thông tấn xã Phathet Lào và báo Lào Phatthana của Hội Nhà báo Lào mới đây có bài viết tựa đề “Tấm lòng cao cả của một doanh nghiệp Việt Nam”, trong đó nói rằng HAGL là nhà đầu tư nước ngoài thành công nhất tại nước này và đem lại cuộc sống ấm no cho người dân ở những vùng có dự án.
Chưa bàn đến chuyện ai đúng ai sai, nhưng rõ ràng HAGL đã và đang thực hiện nhiều biện pháp xử lý khủng hoảng truyền thông để bảo vệ thương hiệu, bảo vệ hoạt động kinh doanh và cố gắng ổn định tâm lý cổ đông, nhà đầu tư. Tuy nhiên, theo Global Witness, dường như HAGL chỉ tập trung vào việc đánh bóng hình ảnh chứ chưa xem xét giải quyết những cáo buộc đang phải đối mặt.
Liệu bầu Đức đã đi đúng đường? Hãy nhìn lại trường hợp tương tự xảy ra trước đó. Hãng sản xuất bột giấy sản lượng lớn thứ ba thế giới Asia Pulp & Paper (Indonesia) cũng đã bị một tổ chức phi chính phủ khác là Greenpeace (Hòa bình Xanh) lên án vì khai thác gỗ bên trong khu di sản rừng nhiệt đới Sumatra của nước này.
Tính đến cuối năm 2012, HAGL đã trồng được 43.500 ha cao su trong kế hoạch 51.000 ha.
Vết xe đổ Asia Pulp & Paper
Asia Pulp & Paper (APP) thuộc Sina Mars Group, một tập đoàn Indonesia chuyên khai thác và kinh doanh bột giấy, dầu cọ và than đá. Mỗi năm, lượng bột giấy mà APP cho ra lò chiếm gần phân nửa tổng sản lượng ngành bột giấy của Indonesia và 20% trong số đó được họ chế biến từ gỗ nguyên liệu khai thác trong những khu rừng ở Sumatra và Java.
Lạ lùng ở chỗ, mặc dù luật pháp Indonesia quy định rừng nhiệt đới là khu vực bất khả xâm phạm nhưng APP hầu như không gặp phải bất kỳ trở ngại nào từ chính quyền sở tại. Tuy nhiên, sự việc đã không qua được mắt các tổ chức bảo vệ môi trường.
Tháng 7/2010, Greenpeace công bố tài liệu cáo buộc APP đã và đang hủy diệt những khu rừng nhiệt đới ở Indonesia, đồng thời góp phần đẩy loài hổ và đười ươi đến bờ vực tuyệt chủng.
Phản ứng lại cáo buộc của Greenpeace, APP bác bỏ hầu hết các sai phạm và thực hiện một chiến dịch truyền thông khủng để nhuộm xanh hình ảnh công ty.
Dưới sự tư vấn của một hãng PR nổi tiếng thế giới, một loạt các nhà báo, công ty tư vấn và một số tổ chức phi chính phủ tại Indonesia đã đồng loạt ca ngợi sự trong sạch và có trách nhiệm của APP. Ấn tượng hơn, APP còn đầu tư cho việc quảng bá hình ảnh doanh nghiệp xanh trên CNN, Sky TV và rất nhiều kênh tin tức quốc tế khác.
Chưa hết, cứ đều đặn mỗi tháng sau đó, họ lại đưa ra thông cáo báo chí khoa trương về những thành tựu và nỗ lực mới trong việc bảo vệ môi trường. Một luận cứ thường xuyên được các doanh nghiệp kiểu này đưa ra và lặp đi lặp lại chính là hoạt động khai thác và chế biến gỗ đã mang lại công ăn việc làm cho người dân sở tại.
Trên thực tế, báo cáo của Greenpeace cho biết cứ mỗi nhân công địa phương được APP thu nhận, doanh nghiệp này lại đi chiếm một diện tích đất có thể nuôi sống từ 36-60 gia đình.
Nhờ nỗ lực không mệt mỏi của Greenpeace và người tiêu dùng, hàng loạt khách hàng lớn đã lần lượt ngưng mua hàng từ APP. Hãng bột giấy của Indonesia đã bị cắt gần như tất cả các hợp đồng cung ứng giấy đã ký với nhà in, nhà phát hành sách lớn của Mỹ cũng như rất nhiều nhà bán lẻ và chuỗi thức ăn nhanh trên thế giới.
Ngoài ra, họ còn mất hơn 100 khách hàng là những tập đoàn lớn như Unilever, Disney, Mattel, Danone, Kraft, Nestlé, Carrefour, Tesco hay Adidas...
Sau gần 3 năm cố gắng nhuộm xanh hình ảnh bằng nhiều chiêu bài PR khác nhau, cuối cùng APP cũng phải chấp nhận đầu hàng Greenpeace. Đầu tháng 3/2013, Chủ tịch APP tuyên bố Hãng sẽ ngừng hoàn toàn việc khai thác gỗ bên trong các khu rừng nhiệt đới, đồng thời cho phép đại diện các tổ chức phi chính phủ tham gia vào quá trình giám sát thực hiện. Thú vị hơn, đại diện hãng này còn tỏ lòng biết ơn Greenpeace vì đã giúp họ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Nhà đầu tư không quên
Sau khi bị Greenpeace lên án, không những APP bị hàng loạt khách hàng cắt hợp đồng mà ngay cả giới cổ đông cũng quay lưng với họ. Sau thời gian chứng kiến khoản đầu tư thua lỗ vì hành động của APP, cả Mackenzie Investments (Canada) lẫn Skagen Funds (Na Uy), 2 cổ đông nước ngoài lớn nhất của APP, đều lần lượt bán tháo cổ phiếu APP trong năm 2012.
Thậm chí, nhà đầu tư nổi tiếng người Mỹ Mark Mobius đã từng phải công khai với báo giới sự thất vọng của ông đối với APP hồi năm ngoái: “Khoản đầu tư tệ nhất mà tôi từng thực hiện là vào một công ty Indonesia tên Asia Pulp & Paper. Chúng tôi thiệt hại khoảng 25% số vốn đầu tư ban đầu vào đấy”.
Có thể nói, cách hành xử không đẹp của doanh nghiệp trong những tình huống nhạy cảm như vậy không chỉ gây thiệt hại cho chính họ mà còn làm liên lụy đến các cổ đông.
Quay lại vụ việc của HAGL, trước cả khi báo cáo chính thức của Global Witness được công bố rộng rãi thì cổ đông lớn của tập đoàn này đã được nghe về thông tin này.
Ông Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Phát triển Kinh doanh Dragon Capital (đơn vị đang nắm khoảng 12% cổ phần trong HAGL), cho biết họ đã sớm làm việc với lãnh đạo của HAGL để phản ánh các mối quan ngại này, đồng thời tổ chức việc tham quan kiểm tra một số dự án của HAGL tại Campuchia.
“Chúng tôi đánh giá cao về sự hợp tác của HAGL trong quy trình này. Ban Lãnh đạo HAGL thể hiện sự quyết tâm và tập trung vào các vấn đề được nêu nhằm đảm bảo công ty đạt được những chuẩn mực cần thiết về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp”, ông Vinh nhận xét. Tuy nhiên, đến thời điểm này, Dragon Capital vẫn chưa thể có bất kỳ kết luận chính thức nào.
Bầu Đức nên làm gì?
Bài học nhãn tiền từ câu chuyện Greenpeace - APP bây giờ ai cũng đã rõ. Tuy nhiên, sau biến cố Global Witness, có một số ý kiến cho rằng HAGL nên chủ động mời CNNBBC hay CNBC đến để kể cho họ nghe câu chuyện của mình.
Có thể đó sẽ là một biện pháp khả dĩ để đánh bóng hình ảnh, nhưng cũng cần lưu ý rằng, các tổ chức phi chính phủ có thể tác động mạnh tới khách hàng của các doanh nghiệp không thân thiện với môi trường.
Khi sôcôla Kit Kat của Nestlé bị Greenpeace cho là dùng dầu cọ được sản xuất trên vùng đất sinh sống của loài đười ươi, Nestlé đã phải cắt hợp đồng cung ứng loại nguyên liệu này với Sina Mars Group (công ty mẹ của APP) để tránh việc sản phẩm bị tẩy chay.
Bây giờ, HAGL đang đứng ở vị trí của Sina Mars Group và APP ngày trước, nghĩa là Global Witness có thể sẽ tác động đến khách hàng mua cao su nguyên liệu của bầu Đức (một trong số đó là hãng lốp xe nổi tiếng của Pháp Michelin) nếu đôi bên không thống nhất được với nhau.
Có thể nói, nguy cơ thiệt hại cho HAGL sẽ là rất lớn nếu như họ chỉ chăm chăm đánh bóng hình ảnh mà không giải quyết được những cáo buộc nói trên.
Quyết định mời Bureau Veritas vào thẩm định và cấp chứng chỉ doanh nghiệp bền vững cho HAGL dường như cũng chưa phải là giải pháp tốt nhất cho họ. Cần nhớ rằng Global Witness là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận đã có nhiều chiến công bảo vệ môi trường ở nhiều nước trên thế giới.
Còn Bureau Veritas dẫu sao vẫn là một tập đoàn có mục tiêu lợi nhuận. Ngay cả APP trước khi tuyên bố đầu hàng Greenpeace vào tháng 3/2013, APP cũng đã kịp nhận được SVLK, chứng chỉ toàn cầu về khai thác gỗ hợp pháp.

Thú vị với việc làm : Heo "treo chuồng", cá "treo ao"

Tuy nhiên, phản ứng của hầu hết các đại biểu Quốc hội dường như chưa đồng tình với kết quả báo cáo của Chính phủ. Đại biểu Trương Văn Vở (tình Đồng Nai), đưa ra những số liệu riêng của mình: Từ năm 2010 đến nay, mức đầu tư ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là rất thấp, chỉ trên dưới 1,5% GDP trong khi đóng góp của nông nghiệp vào GDP của cả nước là trên dưới 20%.
Giá thịt gà hiện giảm còn 37.000 đồng/kg
1kg lỗ 8.000 đồng
Tại Hà Nội, thời gian này lượng xe đến thu gom thức ăn thừa ở các quán ăn đang tăng lên. Đa phần người đi thu gom là các hộ chăn nuôi lợn từ ngoại thành Hà Nội.
Anh Đinh Văn Nam, chủ của chuồng lợn 100 con ở Thạch Thất cho biết, trước đây gia đình anh chủ yếu chăn nuôi bằng thức ăn công nghiệp, nhưng với tình hình thua lỗ hiển hiện như thế này, anh buộc phải theo chân nhiều hộ chăn nuôi khác quận nội thành Hà Nội xin thức ăn thừa về.
Theo tìm hiểu thực tế, chưa bao giờ giá lợn hơi xuất chuồng của người chăn nuôi lại rẻ như hiện nay. Từ đầu tháng 3 đến nay, giá lợn hơi liên tục giảm, từ 37.000 đồng/kg, xuống 32.000 rồi 30.000 đồng/kg.
Tính toán từ người chăn nuôi cho biết, cứ 100kg lợn hơi lỗ 600.000 - 800.000 đồng. Cũng chung cảnh ngộ là người chăn nuôi gà thịt. Giá gà thịt hiện đã giảm từ 50.000 đồng/kg xuống còn 37.000 - 38.000 đồng/kg.
Trong khi đó, gần tháng nay, giá thức ăn lại vẫn tăng 20-30%. Tính xa hơn, từ năm 2012 đến nay, giá cám đã tăng 150.000 đồng/bao 25kg. Cụ thể năm 2012, cám loại 25kg/bao có giá 270.000 đồng/bao, giờ 420.000 đồng/bao.
Không chỉ giá cám công nghiệp tăng từ 400.000 lên 500.000 đồng/bao 25kg, mà giá bột sắn cũng tăng từ 1.600 đồng lên 2.200 đồng/kg; cám gạo tăng từ 6.000 lên 8.000 đồng/kg.
Với tình hình hiện nay, người chăn nuôi tiếp tục thua lỗ là có thật. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm 2013 đạt 6,97 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó, riêng giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 5 ước tính đạt 236 ngàn tấn, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2013 đạt 1,15 tỷ USD, tăng 40,6 % so cùng kỳ năm trước.
Nông nghiệp vào nghị trường
Ngày 30/5, các vấn đề cấp thiết liên quan đến giải quyết khó khăn cho ngành nông nghiệp đã được đưa ra bàn thảo tại Quốc hội. Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã giải trình trước Quốc hội rằng, đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng để đảm bảo sau 5 năm, mức tăng sẽ gấp 2 lần so với 5 năm trước.
Cụ thể, tính đến tháng 5/2013, Chính phủ đã phân bổ 131.000 tỷ đồng cho lĩnh vực này, tăng trên 3,5 lần so với 2009. Tỷ trọng chi cho "tam nông" cũng tăng từ 32,8% năm 2008 lên 41,9% trong năm 2013.
Tuy nhiên, phản ứng của hầu hết các đại biểu Quốc hội dường như chưa đồng tình với kết quả báo cáo của Chính phủ. Đại biểu Trương Văn Vở (tình Đồng Nai), đưa ra những số liệu riêng của mình: Từ năm 2010 đến nay, mức đầu tư ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là rất thấp, chỉ trên dưới 1,5% GDP trong khi đóng góp của nông nghiệp vào GDP của cả nước là trên dưới 20%.
Ông Vở thẳng thắn nhận định: Quyết định 80 năm 2002 về khuyến khích phát triển nông nghiệp của Chính phủ theo lời hứa của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT có từ kỳ họp thứ 2 nhưng đến nay chưa được ban hành.
Đại biểu Võ Thị Dung (TP.HCM) nói: "Hiện người nông dân đang phải tự bơi trong cơ chế thị trường. Từ việc giá cả vật tư đầu vào như con giống, thức ăn, thuốc thú y cho đến đầu ra sản phẩm, chúng ta vẫn chưa có một cơ quan xuyên suốt để lo, quản lý, mà mặc cho người nông dân tự lo là chính".
Bà Dung đề xuất: "Chúng ta cần có chính sách để bảo hộ cho sản xuất nông nghiệp trong nước, chứ không thể cứ vin vào chuyện gia nhập WTO mà bỏ mặc được. Cụ thể, cần có chính sách bình ổn giá thức ăn, phân bón, giảm lãi suất vốn vay cho sản xuất nông nghiệp, thậm chí bằng 0% để kích thích sản xuất".
Đại biểu Trương Minh Hoàng (Cà Mau) cho biết: "Khi tiếp xúc với cử tri, chúng tôi cảm thấy rất ngại khi người nông dân nói rằng họ không được hưởng gì nhiều từ các chính sách ưu đãi của Chính phủ.
Theo tôi, cần nghiên cứu phương án hỗ trợ trực tiếp cho nông dân, thay vì việc cho doanh nghiệp vay ưu đãi để mua sản phẩm của nông dân".

Chia sẻ cùng bạn tin: nhà đầu tư nội giành ưu thế trên sân goln

Thứ nhất, đây là môn thể thao đang có nhu cầu phát triển. Mặc dù khó khăn, song về cơ bản, đây là lĩnh vực đang có thị trường, nên khả năng đảm bảo thu bù chi vẫn khá tốt từ hoạt động hàng ngày của sân golf. Tất nhiên, điều này đúng với các dự án tại Hà Nội, TP.HCM. Với các địa điểm kém thuận lợi hơn về cơ sở hạ tầng, đường sá, mức sống dân cư thì sẽ còn khó khăn.
Mặc dù chưa nhìn thấy xu hướng rõ ràng trong hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực đầu tư sân golf, song ông Nguyễn Ngọc Chu, Phó chủ tịch Hiệp hội Golf Việt Nam cho rằng, các nhà đầu tư nội đang tranh thủ sự rút lui của nhà đầu tư ngoại để giành ưu thế cho tương lai.
* Thưa ông, mặc dù những thương vụ chuyển nhượng sân golf không được công bố, song có vẻ như đang có một sự chuyển dịch lớn trong lĩnh vực đầu tư sân golf qua hình thức M&A. Và hình như các nhà đầu tư đang muốn rút chân ra khỏi lĩnh vực này?
Ông Nguyễn Ngọc Chu, Phó chủ tịch Hiệp hội Golf Việt Nam
- M&A, không riêng trong golf, là động thái bình thường trong kinh doanh. Có rất nhiều lý do.
Một là, do lỗ nên phải bán.
Hai là, họ đã có lợi nhuận nhưng không nhìn thấy cơ hội tìm kiếm lợi nhuận đáng kể thêm nữa. Cũng có thể nhà đầu tư cần tài chính để phục vụ những mục đích khác.
Tuy nhiên, về tổng thể, trong thời điểm hiện tại, việc các nhà đầu tư nước ngoài quyết định chuyển nhượng các dự án của mình phần nhiều là do họ không nhìn thấy cơ hội kiếm được lợi nhuận trong thời gian sắp tới như họ mong đợi.
* Vậy tại sao các nhà đầu tư Việt Nam lại tham gia cuộc chơi có vẻ không còn hấp dẫn này, thưa ông?
- Nhà đầu tư, dù nội hay ngoại, phải thấy cơ hội thì mới quyết định đầu tư. Mấu chốt nằm ở chỗ, khoản lợi nhuận mà các nhà đầu tư nước ngoài cho là không còn hấp dẫn, hoặc còn phải chờ đợi thêm nữa, nhưng vẫn là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Hơn thế, cũng phải thấy điểm đặc thù của lĩnh vực đầu tư vào sân golf ở Việt Nam. So với việc bắt đầu một dự án mới, thì việc mua lại dự án đang triển khai sẽ giảm chi phí, thời gian đầu tư, nhất là chi phí giải phóng mặt bằng. Đặc biệt hơn, việc tìm kiếm những vị trí đẹp, phù hợp với đầu tư sân golf không còn nhiều, nhất là những địa điểm gần Hà Nội, TP.HCM…
Cũng phải nói thêm, trong bối cảnh kinh doanh hiện tại, rất ít nhà đầu tư quyết định đầu tư mới dự án trong lĩnh vực này.
* Vậy, có thể nói rằng, trong giai đoạn hiện tại, M&A sẽ là hình thức đầu tư lấn át trong lĩnh vực này?
- Rất khó để nhận định như vậy, nhất là trong bối cảnh kinh tế còn khó khăn, phân khúc bất động sản cao cấp tiếp tục gặp khó. Ngay cả với những dự án đã được mua lại, chủ mới cũng chỉ đầu tư, phát triển cầm chừng.
Còn với bất động sản trong sân golf, phần tạo nên giá trị gia tăng cao cho nhà đầu tư, thì trừ những vị trí đắc địa, họ sẽ phải chờ thêm một thời gian nữa để có thể tìm lại cơ hội.
Tuy nhiên, với các động thái hiện tại, dường như các nhà đầu tư nội đang tận dụng cơ hội giành ưu thế trong tương lai.
* Có nghĩa là họ chấp nhận thua lỗ để đầu tư cho tương lai?
- Không hẳn. Cơ hội của lĩnh vực này rất tiềm năng. Vấn đề là thời gian và địa điểm.
Thứ nhất, đây là môn thể thao đang có nhu cầu phát triển. Mặc dù khó khăn, song về cơ bản, đây là lĩnh vực đang có thị trường, nên khả năng đảm bảo thu bù chi vẫn khá tốt từ hoạt động hàng ngày của sân golf. Tất nhiên, điều này đúng với các dự án tại Hà Nội, TP.HCM. Với các địa điểm kém thuận lợi hơn về cơ sở hạ tầng, đường sá, mức sống dân cư thì sẽ còn khó khăn.
Thứ hai, so với Quy hoạch Phát triển sân golf đến năm 2020, khả năng hoàn thành đầu tư 90 sân golf không dễ, do không nhiều nhà đầu tư muốn bắt đầu một dự án mới. Vì vậy, nếu các dự án hiện hữu được đầu tư hoàn thiện, khả năng đến năm 2020 Việt Nam mới có khoảng 50 sân golf.
Cùng với sự hồi phục, phát triển của kinh tế, những nhà đầu tư hiện tại sẽ có được khoản lợi nhuận lớn từ các khoản đầu tư khá hấp dẫn vào lúc này.

Vấn đề bán thực tại, mua tương lai

Đứng trước bài toán kinh doanh sân golf hiện nay, thì các quyết định M&A sẽ mang tính chiến lược, tạo nên một sự thay đổi lớn trong doanh nghiệp, cũng như tầm nhìn và hướng đi của doanh nghiệp về sau. M&A cũng được xem là chiến lược quan trọng mà các ông chủ sân golf kỳ vọng sẽ tạo ra cho doanh nghiệp một sức bật mới, nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Ai mua, ai bán?
Làn sóng mua bán, sáp nhập (M&A) đã len lỏi vào mọi hoạt động của nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực đầu tư kinh doanh sân golf.
Sân golf Đà Lạt đã được Công ty Vina Properties Development (VPD) mua lại từ nhà đầu tư nước ngoài năm 2012
Mới đây, TCI - nhà đầu tư Singapore đã chuyển nhượng 75% cổ phần nắm giữ tại sân golf Sông Bé (Bình Dương) cho thành viên còn lại là Công ty Sản xuất - xuất nhập khẩu Bình Dương (Protrade). Thương vụ chuyển nhượng sân golf 27 lỗ này đã hoàn tất cách đây không lâu, nhưng chi tiết về giá chuyển nhượng vẫn chưa được công bố.
Đây chỉ là một trong rất nhiều thương vụ M&A điển hình nhất trong lĩnh vực sân golf mà thị trường ghi nhận được thời gian gần đây.
Năm 2012, thị trường cũng ghi nhận giao dịch M&A gây chấn động trong lĩnh vực sân golf, qua thương vụ Tập đoàn C.T group mua lại 95% cổ phần tại Công ty G.S Củ Chi với giá 24 triệu USD (tương đương 480 tỷ đồng) để trở thành chủ đầu tư mới của Dự án sân golf 36 lỗ và khu biệt thự tại Củ Chi, TP.HCM.
Trước đó, nhiều vụ mua bán, sang tên, đổi chủ dự án sân golf liên tiếp diễn ra trong điều kiện “giao dịch kín”, do bên mua và bên bán có điều khoản thỏa thuận không công bố thông tin. Trong số đó, có thể nhắc đến một loạt thương vụ như: Tập đoàn Norfolk mua lại Dự án sân golf tại quận 2, TP.HCM; Công ty TNHH Quản lý quỹ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank Capital) mua lại sân golf Hoàng Gia từ Công ty PV-Inconess (thuộc PVN); Du Parc mua lại sân golf Phan Thiết hay Công ty Vina Properties Development (VPD) mua lại sân golf Đà Lạt... Ngoài ra, một sân golf tại khu vực miền Trung đang nổi lên như là một hiện tượng trong cộng đồng golf, nhưng theo một nguồn tin đáng tin cậy cho biết, chủ đầu tư nước ngoài của dự án này cũng đang tìm đối tác để thoái vốn khỏi dự án.
Theo nhận định của một số chuyên gia tư vấn bất động sản, lĩnh vực kinh doanh sân golf đang nổi lên 2 xu hướng chính: mua bán lại các dự án sân golf và thay tên đổi chủ những sân golf đã đi vào hoạt động. Các thương vụ này đều do nhà đầu tư nội địa xúc tiến, với hai hình thức chính: mua lại cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, hoặc “săn” các dự án của nhà đầu tư nội khác đang phải đối đầu với các khoản nợ vay, hạch toán chi phí và lợi nhuận không như kỳ vọng…
Chính vì vậy, nếu như cách đây 3 năm, số sân golf tại Việt Nam có chủ đầu tư là người nước ngoài cao hơn chủ đầu tư người Việt, thì sau khi xuất hiện làn sóng M&A, tỷ lệ này đã nhanh chóng thay đổi. Trong số 28 sân golf có quy mô 18 lỗ trở lên đang hoạt động, chỉ còn 10 sân của chủ đầu tư nước ngoài, còn lại đều do người Việt Nam là chủ sở hữu, trong đó nhiều sân golf có bộ máy quản lý hoàn toàn là người Việt.
Khác với công ty nước ngoài vốn xem việc mua bán dự án là chuyện bình thường trong đầu tư và thông tin thường rất minh bạch, đa phần các ông chủ sân golf Việt Nam lại xem việc mua bán dự án là một sự thất bại trong kinh doanh, nên thường giấu kín thông tin. Chính vì tâm lý đó mà một công ty tư vấn nước ngoài đã phải vò đầu bứt tai trong việc tìm nhà đầu tư mua lại dự án sân golf của một doanh nghiệp trong nước, với điều kiện là không được công bố thông tin rao bán.
Kinh doanh sân golf có còn hấp dẫn?
Theo khảo sát của Hiệp hội Golf Việt Nam, đầu tư một lỗ golf tốn ít nhất 1 triệu USD, chưa kể tiền thuê đất, đền bù giải tỏa, tùy địa hình mà số tiền đầu tư còn tăng thêm. Chính vì vậy, một sân golf 18 lỗ tại Việt Nam muốn thu hồi vốn, trung bình phải có ít nhất 30.000 lượt người chơi/năm và muốn có lợi nhuận 10% phải có 33.000 lượt người chơi/năm. Sân golf nhiều lỗ hơn thì điểm hoà vốn đòi hỏi số lượt người chơi cao hơn.
Hiện ở Việt Nam, trong tổng số 28 sân golf có quy mô 18 lỗ trở lên đang hoạt động, chỉ có chưa tới 10 sân golf hoà vốn hoặc có một chút lãi, phần lớn tập trung ở TP.HCM, Đà Nẵng, quanh Hà Nội, Hải Phòng, Móng Cái (Quảng Ninh).
Hiện các sân golf đều duy trì hoạt động nhờ kinh doanh thẻ hội viên, với mức phí 1.200-2.000 USD/năm. Mỗi lần hội viên vào đánh, sân golf thu trung bình 20 USD/người, mức phí với khách vãng lai cao gấp 3-5 lần, tùy ngày đánh đầu tuần hay cuối tuần.
Nhiều chủ đầu tư sân golf thừa nhận, trong kinh doanh sân golf, dù mức phí hội viên và các phí dịch vụ thường niên rất cao, nhưng vẫn không bù nổi chi phí mà chủ đầu tư phải bỏ ra trong nhiều năm đầu. Do vậy, hiệu quả của các dự án sân golf chủ yếu trông chờ vào kinh doanh bất động sản (biệt thự, villa, khách sạn, resort…).
Tuy nhiên, thị trường bất động sản cũng đang gặp khó khăn đã tác động xấu đến các dự án liên quan đến golf. Một loạt dự án sân golf trên khắp cả nước phải tạm dừng hoặc xin điều chỉnh quy mô. Một số dự án vẫn tiếp tục đầu tư, nhưng chưa biết đến khi nào hoàn thành như Dự án sân golf Cam Ranh (Khánh Hòa), Dự án sân golf Mekong tại Bình Dương, Dự án sân golf 18 lỗ Đà Nẵng có tên gọi Ba Na Hills Golf Club. Một số sân golf khác vẫn chỉ dừng lại ở quy mô 9 hố như: Diamond Bay (Nha Trang), Hồ Tuyền Lâm (Đà Lạt), Đạ Ròn (Lâm Đồng)…
Hơn nữa, khác với kinh doanh bất động sản nói chung, quyền sử dụng đất đối với các dự án sân golf hiện chỉ được giới hạn trong vòng 50 năm. Điều này có thể hạn chế tính thanh khoản đầu tư, do đó cũng giảm nguồn vốn sẵn có, chủ đầu tư sẽ lâu thu hồi vốn hơn.
“Đầu tư sân golf rất khó kiếm lời. Tôi bán sân golf 18 lỗ ở Vĩnh Phú cũng do khó nhìn thấy hướng ra”, ông Lê Kiên Thành, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Golf Việt Nam nói và cho biết, để duy trì hoạt động, doanh thu ít nhất của sân golf phải là 140 triệu đồng/ngày. Nếu khách chơi là hội viên (chỉ phải trả 20 USD/ngày) thì sân golf phải có ít nhất 300 hội viên đến chơi mỗi ngày thì mới hoà vốn. Trong khi đó, đến thời điểm bán lại năm 2009, sân golf của ông Thành mới bán được 150 thẻ hội viên.
Lối ra
Đứng trước bài toán kinh doanh sân golf hiện nay, thì các quyết định M&A sẽ mang tính chiến lược, tạo nên một sự thay đổi lớn trong doanh nghiệp, cũng như tầm nhìn và hướng đi của doanh nghiệp về sau. M&A cũng được xem là chiến lược quan trọng mà các ông chủ sân golf kỳ vọng sẽ tạo ra cho doanh nghiệp một sức bật mới, nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Câu hỏi đặt ra là, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách rút khỏi các dự án sân golf, thì các nhà đầu tư nội kỳ vọng gì vào loại hình kinh doanh này mà lại bỏ tiền để thế chỗ nhà đầu tư ngoại?
Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, dù là một quyết định mạo hiểm, nhưng M&A vẫn là một xu hướng phát triển mạnh trong những năm gần đây. Xét về lâu dài, tư duy kinh doanh sân golf theo hình thức gắn kết với bất động sản tất yếu sẽ phải thay đổi. Một số chủ đầu tư mới đã nhận thức được rằng, chỉ có thể phát triển chiều sâu như tập trung vào chất lượng thiết kế, xây dựng cao cấp, quản lý và dịch vụ chất lượng tốt mới có thể lôi kéo được các nhà đầu tư và khách hàng tiềm năng, thay vì chỉ chú tâm vào việc làm sao thu hồi được vốn nhanh.
Nhờ vậy, sau khi nắm quyền sở hữu sân golf Hoàng Gia, việc đầu tiên mà VietinBank Capital thực hiện là đẩy nhanh việc ký hợp đồng với công ty thiết kế và xây dựng số một thế giới Nicklaus Design và công ty xây dựng sân golf danh tiếng của Mỹ Flagstick để xây dựng nhà câu lạc bộ và 18 hố golf mới. Giá trị hợp đồng không được tiết lộ, nhưng theo đánh giá có thể lên tới 20 triệu USD. Và chỉ gần 1 năm sang tên chủ đầu tư mới, sân golf Hoàng Gia đã có những tín hiệu khởi sắc trong hoạt động kinh doanh.
Trong số các sân golf được mua lại, hầu hết tên giao dịch vẫn được giữ nguyên, trong khi sân golf được đầu tư tốt hơn. Một tín hiệu đáng mừng là, một số sân golf từ khi thuộc sở hữu của người Việt đã ăn lên làm ra hơn so với chủ ngoại quốc trước đây, chất lượng dịch vụ cũng được thay đổi theo chiều hướng tích cực, quyền lợi của hội viên tiếp tục được gia tăng hơn.
Với việc Việt Nam đang nổi lên như một điểm chơi golf có tiếng trong khu vực nhờ chất lượng xây dựng, thiết kế và dịch vụ ngày càng tốt hơn, xu hướng M&A mạnh mẽ thời gian gần đây sẽ mang lại niềm tin về một sự phát triển bền vững trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh sân golf.

Giới thiệu với bạn về gia công Levi's đối đầu Levi's chính hãng

Ngoài hợp tác sản xuất, cung ứng hàng cho nhãn hiệu thời trang The Blue, Blue Exchange cho thị trường nội địa, Sài Gòn Xanh còn thiết kế, sản xuất, bán hàng theo dạng OBM (vận hành theo tất cả các khâu trong chuỗi giá trị, từ thiết kế, sản xuất đến làm thương hiệu, bán lẻ - Own Brand Manufacturer) vào thị trường Mỹ. Công ty mở văn phòng đại diện và các chi nhánh tại Mỹ vào tháng 2/2013.
Hàng hiệu tấn công "ba cấp"
Chính sách giá địa phương và các đợt sale mạnh tay khiến nhiều hàng hiệu thời trang nước ngoài bỗng trở thành đối thủ trực tiếp của các thương hiệu thời trang nội địa.
Ba năm trước, thị trường có dịp chứng kiến cuộc cạnh tranh quyết liệt của một số nhãn hàng thời trang dành cho giới trẻ, gồm: Ninomaxx (Công ty Thời trang Việt), Blue Exchange (Công ty Thời trang Xanh Cơ Bản), Foci (Công ty Thời trang Nguyên Tâm) hay PT2000 (Công ty TNHH Phạm Tường 2000)...
Cửa hàng của những nhãn hàng này chạy đua chiếm giữ những vị trí đắc địa trên các trục đường chính và các trung tâm thương mại (TTTM). Sau đúng ba năm, cuộc đua này đang nhường chỗ cho các thương hiệu thời trang nước ngoài có cùng phân khúc như GAP, Lee, Levis, Mango, Giordano...
Các nhãn hàng này phủ kín sự hiện diện tại các TTTM lớn như Vincom Center, Crescent Mall, Bitexco Financial, Parkson Hùng Vương, Saigon Centre... hay trên những trục đường chính trong trung tâm TP.HCM.
Các đợt sale mạnh tay liên tục cùng chính sách giá khiến mặt hàng của các thương hiệu này càng có giá rẻ hơn.
Chẳng hạn, các mẫu quần jeans và áo thun của Levis, Mango, Giordano có giá chỉ nhỉnh hơn một chút so với các sản phẩm cùng loại của các thương hiệu trong nước.
Do đó, các thương hiệu này đã nhanh chóng thu hút lượng lớn khách hàng giới trẻ và lần lượt đẩy các thương hiệu thời trang trong nước lùi ra các khu vực hạng 2 (những tuyến đường cận trung tâm và các tỉnh, thành phố khác).
Năm 2004, Công ty TNHH Mai Son (nay là Công ty CP Mai Son) đã đưa nhãn hàng thời trang Mango vào Việt Nam và nhanh chóng thành công.
Năm 2007, cùng với số vốn đầu tư 5 triệu USD của Công ty Quản lý Quỹ Mekong Capital, Mai Son phát triển lên 11 cửa hàng tại TP.HCM và Hà Nội.
Một năm sau sự du nhập của Mango, Levis cũng được Công ty Thanh Bắc Đông Dương (nay là Công ty TNHH Thanh Bắc Thời Trang) đưa vào Việt Nam qua hình thức phân phối độc quyền.
Từ cửa hàng đầu tiên được khai trương tại Vincom Hà Nội, đến nay, Levis đã có mặt ở các TTTM lớn trên toàn quốc.
Tháng 4/2011, thương hiệu thời trang Mỹ GAP cũng khai trương cửa hàng đầu tiên tại TTTM Vincon Center, TP.HCM và năm 2012 là tại Hà Nội khiến cho thị trường thời trang thương hiệu nước ngoài thêm sôi động.
Hiện nay, doanh nghiệp gia công quần jeans hiệu Levis xuất sang thị trường Mỹ có giá FOB chỉ khoảng 12 - 15 USD/chiếc. Cũng với chất liệu, kiểu dáng tương tự, quần jeans có thương hiệu trong nước sản xuất và tiêu thụ tại thị trường nội địa với giá 15 - 30 USD nhưng cũng không có cơ hội bán được hàng khi phải đối đầu với chính Levis.
Cùng với việc thu hút nhóm khách hàng trẻ mê hàng hiệu các thương hiệu thời trang nước ngoài đang tạo ra cuộc cạnh tranh trực tiếp về giá với các nhãn hàng thời trang trong nước cùng phân khúc.
Chẳng hạn, theo bà Nguyễn Hồng Hà, Giám đốc Marketing Công ty TNHH Thanh Bắc Thời Trang: "Hệ thống cửa hàng Levis phân theo ba cấp bậc nhằm đáp ứng sự đa dạng và nhu cầu của từng phân khúc khách hàng. Bên cạnh đó, nhiều chương trình khuyến mãi cũng liên tiếp được thực hiện dành cho khách hàng nhằm cân đối được giữa hàng cũ và mới".
Không kể những mặt hàng có giá trên 2 triệu/sản phẩm, với phân khúc giá tầm từ 300.000 đồng đến dưới 1 triệu đồng/sản phẩm, các sản phẩm của Levis chiếm ưu thế tuyệt đối về thương hiệu và chất lượng so với sản phẩm cùng loại của các công ty trong nước.
Trước sự lấn lướt của của các nhãn hàng thời trang ngoại, hai năm trở lại đây, các nhãn hàng như Ninomaxx, Blue Exchange, Foci, PT 2000... phải thay đổi mạnh mẽ.
Có đơn vị tái thiết lập hệ thống cửa hàng, thu hẹp quy mô hoạt động, có đơn vị chuyển sang các địa bàn cận trung tâm, đi tỉnh, thậm chí còn tìm hướng xuất sang Campuchia, Lào hay Myanmar.
Nguy cơ phơi áo sân nhà
Đến năm 2015, theo lộ trình hội nhập, hàng rào thuế quan của tất cả các mặt hàng tiêu dùng, trong đó có thời trang bị dỡ bỏ thì doanh nghiệp dệt may Việt Nam càng khó cạnh tranh với hàng hiệu nước ngoài ngay tại thị trường nội địa.
Theo khảo sát của Tập đoàn Nghiên cứu thị trường Euromonitor (Anh), lĩnh vực thời trang may mặc Việt Nam có doanh thu đạt trên 3 tỷ USD vào năm 2012.
Hiện có gần 200 thương hiệu thời trang ngoại có mặt tại Việt Nam, chiếm hơn 60% thị trường, tiêu thụ mạnh nhất là các thương hiệu tầm trung (với các thương hiệu châu Á như Giordano, Bossini...) và cao cấp (các thương hiệu thế giới như CK, Mango, D&G, Gucci, Nautica...).
Thị trường hàng thời trang thế giới có bốn nhóm hàng, nhóm hàng thiết kế cao cấp, hàng sản xuất theo xu hướng thời trang, hàng theo mùa, cuối cùng là hàng giá rẻ.
Nếu vậy, dù mới chỉ đứng ở hai nhóm hàng cuối nhưng những thương hiệu có tên tuổi nội địa cũng đang phải đối đầu trực tiếp với các thương hiệu nước ngoài.
Chính vì thế, nhiều doanh nghiệp dệt may vẫn chấp nhận gia công cho nước ngoài hơn là tự xây dựng thương hiệu để bán cho thị trường nội địa.
Các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu lớn như Việt Tiến, Nhà Bè, An Phước... có thuận lợi hơn khi phát triển tại thị trường nội địa nhờ có tiềm lực tài chính tốt.
Năm 1997, An Phước bước chân vào lĩnh vực hàng hiệu bằng thương hiệu nhượng quyền lừng danh Pierre Cardin. Song hành với Pierre Cardin là "hàng hiệu Việt" An Phước. Khi mới xuất hiện, An Phước - Pierre Cardin đã nổi bật giữa các mặt hàng may mặc của Việt Nam và không hề thua kém các nhãn hàng hiệu nước ngoài.
Sự khôn khéo của bà Nguyễn Thị Điền, Tổng giám đốc Công ty May Thêu Đan Giày An Phước là ở chỗ chọn đối tượng khách hàng chính là nam doanh nhân ở độ tuổi 35 - 40, độ tuổi hết sức tinh tế trong ăn mặc nhưng lại ít thay đổi về gu thẩm mỹ.
Sau thương hiệu Pierre Cardin, An Phước, một loạt thương hiệu cao cấp khác theo hình thức hợp tác hoặc mua nhượng quyền của các nhãn hiệu thời trang quốc tế như Sanciaro (phong cách Ý), Manhattan (phong cách Mỹ) của Công ty Việt Tiến và Công ty May Nhà Bè... cũng xuất hiện.
Trào lưu "hàng hiệu Việt" phát triển mạnh trong năm 2010. Chỉ trong năm này, có đến vài trăm cửa hàng thời trang thương hiệu Pierre Cardin, An Phước, Sanciaro, Manhattan, Mattana, N&M... trong khắp cả nước. Trong đó, nhãn hiệu Mattana của Công ty May Nhà Bè dẫn đầu về tốc độ phát triển với 100 cửa hàng.
Công ty Việt Tiến trong 6 tháng có hơn 30 cửa hàng đại lý. Các cửa hàng song hành nhãn hiệu Pierre Cardin - An Phước cũng mở mỗi năm đến 10 điểm bán mới, lên 80 cửa hàng trong cả nước.
Không chỉ mở cửa hàng bên ngoài, "hàng hiệu Việt" còn mạnh tay chi tiền thuê các gian hàng tại các TTTM sang trọng như Parkson, Vincom, Zen Plaza...
Ông Tham Tuck Choy, Tổng giám đốc Parkson Việt Nam khẳng định: "Hàng hiệu Việt không thua gì hàng nước ngoài về mẫu mã, kiểu dáng so với hàng ngoại nhưng giá cả lại mềm hơn rất nhiều. Đó là lý do nhiều năm qua, các trung tâm Parkson đã chấp nhận sự có mặt của các thương hiệu thời trang Việt Nam".
Trên thực tế, sản phẩm thời trang Việt đã được nhiều nhà sản xuất hàng may mặc đánh giá cao bởi chất liệu vải chọn lọc, kỹ thuật may khá tốt. Bằng chứng là có rất nhiều thương hiệu như Hannes, GC Benny, Gues, Temper... bán tại các TTTM của Mỹ đều gắn "made in Vietnam".
Tuy nhiên, ở góc độ của một nhà tư vấn thương hiệu, ông Phạm Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Left Brain Connectors, cho rằng:
"Hàng hiệu là hàng có thương hiệu. Và một thương hiệu hàng hiệu phải có người hâm mộ, đó là những khách hàng trung thành, sẵn sàng bênh vực khi nhãn hiệu mình yêu thích bị người khác chỉ trích. Hiện nay, hàng hiệu trong nước mới chỉ có một nửa, đó là những người mua hàng".
Vì thế, các thương hiệu trong nước dường như rất khó khăn để leo lên nhóm hàng thiết kế cao cấp và hàng sản xuất theo xu hướng thời trang. Còn nhớ Việt Tiến cũng đã từng đầu tư cho thương hiệu T-up 5 tỷ đồng với nhà thiết kế chính từ Pháp và giá cho mỗi sản phẩm lên đến hàng triệu đồng nhưng cũng đã gần như mất tích trên thị trường.
Hiện nay, sự lấn sân ngày càng ồ ạt của nhiều nhãn hàng thời trang hàng hiệu nước ngoài buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự thay đổi. Bà Điền cho biết, An Phước đang tích cực mở rộng khâu khai thác nguyên liệu để có thêm các loại vải phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Quan trọng hơn, An Phước đã thỏa thuận để phía Pierre Cardin chuyển giao mẫu thiết kế ba tháng một lần đồng thời với việc tạo thêm "giá trị mềm" cho khách hàng như cho đổi hàng, sửa sản phẩm theo yêu cầu...
Một yếu tố khiến hàng Việt khó cạnh tranh là những quy định về quảng bá, tiếp thị. Ở nước ngoài, doanh nghiệp không bị khống chế kinh phí quảng bá, tiếp thị nên có thể linh hoạt giảm giá, chiết khấu mạnh, miễn sao hàng bán được và thâm nhập được vào thị trường mà họ mong muốn.
Còn ở Việt Nam, chi phí marketing khống chế ở mức 10% trên doanh số nên doanh nghiệp khó có thể làm mạnh hơn. Với chính sách như vậy, nên khi thâm nhập vào một thị trường nào đó, hàng may mặc thời trang nước ngoài sẵn sàng chịu lỗ và dễ dàng đánh bật sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo bà Điền, để hàng hiệu Việt có thể cạnh tranh với hàng hiệu nước ngoài ít nhất phải mất 5 - 10 năm nữa. Điều bà Điền lo lắng là "chỉ đến năm 2015, theo lộ trình hội nhập, hàng rào thuế quan của tất cả các mặt hàng tiêu dùng, trong đó có thời trang bị dỡ bỏ thì doanh nghiệp Việt Nam càng khó cạnh tranh với hàng hiệu nước ngoài".
Một cách tân, bốn đại tu
Ngay cả việc giữ mảng thị phần nhỏ còn lại cũng khó, khiến các nhãn thời trang nội địa phải tự làm mới một lần nữa.
Mới đây, Công ty Thời Trang Việt đã rình rang khai trương cửa hàng Ninomaxx Concept tại 189A Hai Bà Trưng, Q.3, TP.HCM. Với diện tích hơn 700m2, trưng bày và kinh doanh cùng lúc hơn 40.000 sản phẩm của 10.000 chủng loại hàng hóa, đây được xem là cửa hàng có quy mô lớn nhất trong chuỗi cửa hàng one-stop shop Ninomaxx Concept đến thời điểm này.
Có thể thấy đây là nỗ lực mới của Ninomaxx trong bối cảnh phải cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ nước ngoài chứ không phải đối thủ trong nước.
"Công ty đang cải tổ toàn diện từ khâu sản phẩm, phân phối đến nhân sự, đối tượng khách hàng... Trước đây, Ninomaxx theo đuổi tiêu chí thời trang, nhưng nay hướng đến chất lượng nhiều hơn. Nếu trước đây, tỷ trọng giữa thời trang và chất lượng là 70/30, thì bây giờ ngược lại, yếu tố chất lượng chiếm đến 70%.
Cùng lúc đó, Ninomaxx cũng định vị lại thương hiệu. Lâu nay, Ninomaxx chủ yếu phục vụ người trẻ, độ tuổi từ 22 - 28, thì nay sẽ mở rộng sang nhiều phân khúc khác nhau, như thời trang trẻ em, giới nhân viên văn phòng, công sở", ông Nguyễn Hữu Phụng, Chủ tịch HĐQT Công ty Thời trang Việt, cho biết.
Khi mở rộng nhãn hàng, quy mô mặt bằng, có vẻ Thời trang Việt sẽ tách bạch giữa sản xuất và làm thương hiệu. Nhiều thông tin cũng cho thấy, công ty này tìm kiếm cơ hội trở thành nhà nhượng quyền độc quyền từ một vài thương hiệu lớn trên thế giới trong thời gian tới.
Với 147 cửa hàng, Blue Exchange đang được xem là thương hiệu thời trang trong nước sở hữu hệ thống cửa hàng hùng hậu nhất từ Hà Nội, TP.HCM đến các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Thế nhưng, Blue Exchange xem ra đã nhìn thấy bất lợi nếu đối đầu trực diện cùng các nhãn hàng thời trang ngoại.
Tính trước điều này, Blue Exchange đã hợp tác cùng Công ty CP Sản xuất TM May Sài Gòn - Garmex Sài Gòn (GMC), thành lập Công ty TNHH hai thành viên Sài Gòn Xanh. Cái bắt tay này nhằm tận dụng thế mạnh của Blue Exchange là phân phối, nguồn nguyên liệu và thế mạnh của Garmex Sài Gòn là năng lực sản xuất.
Ngoài hợp tác sản xuất, cung ứng hàng cho nhãn hiệu thời trang The Blue, Blue Exchange cho thị trường nội địa, Sài Gòn Xanh còn thiết kế, sản xuất, bán hàng theo dạng OBM (vận hành theo tất cả các khâu trong chuỗi giá trị, từ thiết kế, sản xuất đến làm thương hiệu, bán lẻ - Own Brand Manufacturer) vào thị trường Mỹ. Công ty mở văn phòng đại diện và các chi nhánh tại Mỹ vào tháng 2/2013.
Ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Garmex Sài Gòn cho biết, tận dụng thế mạnh này, Sài Gòn Xanh đặt mục tiêu sản xuất mặt hàng thời trang Việt Nam chào bán trực tiếp cho các đối tác chứ không phải là gia công như lâu nay.
Năm ngoái, GMC cũng cung cấp cho Blue Exchange đơn hàng tiêu thụ nội địa trị giá 150 tỷ đồng, chiếm 10% doanh thu. "Tuy đây chỉ "làm chơi" nhưng doanh thu còn lớn hơn doanh thu cả năm của những đơn vị gia công trong ngành may mặc đã có tên tuổi", ông Hùng nói.
Tuy tiềm năng nhưng Sài Gòn Xanh chưa phát triển các thương hiệu thời trang cho thị trường nội địa, bởi vì chi phí đầu tư mặt bằng, nội thất, trang thiết bị, đội ngũ bán hàng, kho bãi... hiện quá cao, gây bất lợi về giá và phát triển thị trường.